Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Sự diệu kỳ Việt Nam

Hôm nay đi lang thang tự nhiên thấy Vietnamnet có đăng lại bài này từ Giáo dục và Thời đại. Bài không ghi tên người dịch.

Bài dưới đây do marcus dịch, theo thỏa thuận bản quyền với chính tác giả bài nguyên bản tiếng Đức Martin Spiewak của tuần báo die Zeit. Bài dịch này marcus đã từng gửi cho nhiều tổ chức cá nhân bên Đức đọc hồi đầu tháng 2 năm nay. Phần rút gọn đã đăng tại blog 360, và bài rút gọn nữa đã đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị (link không còn hoạt động, hic).

So sánh thì thấy bài trên GD&ĐT giống về cơ bản. Chuyện này bình thường vì cùng là bản dịch từ 1 bài báo. Tuy nhiên marcus cho rằng GD&ĐT không có bản quyền dịch vì Martin Spiewak chỉ có thỏa thuận duy nhất với marcus mà thôi. Nghĩ qua thì thấy có gì không ổn, nhưng mà thôi chắc tặc lưỡi cho qua vậy. Vì mục đích khi làm chuyện này của marcus là muốn mang thông tin đến cho người đọc tiếng Việt thôi.
*************************************************************

Sự diệu kỳ Việt Nam

Con cái những người nhập cư đến từ Việt nam gây chú ý bởi điểm số lung linh ở trường học. Sự thành công này đi ngược lại những định kiến trong cuộc bàn thảo về vấn đề hòa nhập.

Bài viết của Martin Spiewak (tuần báo die Zeit số ra ngày 22/01/2009)
Dịch sang tiếng Việt bởi Mạnh Cường Vũ. Các chú thích trong bài là của người dịch.
---------------------------------------------

Detlef Schmidt-Ihnen, hiệu trưởng trường Gymnasium Barnim ở quận Lichtenberg, Đông Berlin, vừa nhận được kết quả thi cấp quận của trường trong kỳ thi Olympic Toán học. Ông có thể vui mừng vì sáu học sinh được thi vòng tiếp theo ở cấp tiểu bang Berlin. Ở ngôi trường này điều đó không có gì đặc biệt bởi đã từ lâu các môn tự nhiên là điểm mạnh của trường. Nhưng một vấn đề tương đối mới là làm sao đọc đúng tên các học sinh này. Cô học trò lớp 7 tên là Trần Phương Duyên hay là Duyên Trần Phương? Và cậu Đức Đào Minh lớp 10?

Schmidt-Ihnen đối mặt với vấn đề này ngày một nhiều hơn: 17 phần trăm số học sinh đang học ở đây là con cái các gia đình Việt Nam, nếu tính riêng các lớp đầu cấp thậm chí con số này là 30 phần trăm. „Rất nhiều học sinh này đặc biệt giỏi các môn Tự nhiên“, ông hiệu trưởng cho biết. Học sinh giỏi nhất môn Toán của trường cũng là một cậu học trò gốc Việt Nam.

Không một cộng đồng nhập cư nào ở Đức thành công hơn ở trường học như người Việt Nam: Trên 50 phần trăm số học sinh người Việt vào được Gymnasium. Tỷ lệ này như vậy còn cao hơn cả học sinh Đức. Nếu so sánh với các học sinh gốc Thổ hay Ý thì tỷ lệ này thậm chí cao gấp năm lần. „Kết quả học tập của học sinh người Việt đối chọi rõ ràng với hình ảnh của trẻ em gốc gác nhập cư mà chúng ta thường có“, bà Karin Weiss - trưởng ban về người nước ngoài của bang Brandenburg cho biết.

Hai mươi năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, thế hệ sau của những người hợp tác lao động ở Cộng hòa Dân chủ Đức cũ đã viết nên một câu chuyện thành đạt còn ít người biết đến. Đến Đông Đức vào những năm giữa thập kỷ 80, và sau khi nước Đức thống nhất, những người lao động từ đất nước xã hội chủ nghĩa anh em thường bị mất việc làm hoặc lâm vào cảnh nghèo khổ, bị cô lập, là nạn nhân của sự thù ghét người nước ngoài. Ngược lại, con cái họ đang nỗ lực khẳng định vị trí của mình trong xã hội Đức, bằng sự cần cù lớn lao và lòng quyết tâm học tập. Bởi tâm lý đòi hỏi con cái phải đạt điểm cao trong các gia đình người Việt rất lớn.

Sự thành công này của học sinh người Việt đặt dấu hỏi cho một loạt những sự thật giả định của cuộc tranh luận về vấn đế hòa nhập. Ai mà cho rằng học dốt luôn có nguyên nhân về mặt xã hội, sẽ thấy mình sai khi xem xét ví dụ Việt Nam. Cả nhận định cho rằng cha mẹ phải hòa nhập trước thì con cái họ mới học hành tốt được cũng không đúng với cộng đồng người nhập cư Đông Á. Tất nhiên, những người cha người mẹ Việt Nam thế hệ thứ nhất thường có một trình độ học vấn cao hơn là người Thổ hay Ý. Nhưng họ cũng biết nói rất ít tiếng Đức, cũng sống trong một tập thể riêng biệt và tạo nên một kiểu xã hội đồng thời tồn tại song song với xã hội Đức.

Việc con cái họ mặc dù vậy vẫn là những học sinh kiểu mẫu đối với người nhập cư là minh chứng cho sức mạnh của một nền văn hóa mà niềm khát vọng giúp người ta nỗ lực vươn lên ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất. Điều này có thể được nhận thấy ở Mỹ, nơi tỷ lệ sinh viên đến từ các quốc gia châu Á – hay cụ thể hơn: các quốc gia chịu sự ảnh hưởng lớn của tư tưởng Khổng Tử - tại các trường đại học hàng đầu lớn hơn bất cứ vùng nào trên thế giới. Giờ đây sự diệu kỳ của giáo dục này được lặp lại ở Đức.

Dung Vân Nguyễn, 14 tuổi, đã từng sống nhiều năm với gia đình tại một trại người tị nạn. Cô gái trẻ không có nhiều ký ức xấu về thời gian này bởi cô luôn có bạn chơi cùng. Cha mẹ Dung ngược lại rất ghét chỗ ở chung thời đó: bếp dùng chung, va chạm cãi nhau giữa những tộc người khác nhau trong trại, trên hết là cái chật chội tù túng. Nhưng dù chật đến mấy vẫn không thể thiếu một chỗ: đó là bàn học của Dung. Và một điều nữa cha mẹ Dung cũng đã làm đúng: đó là gửi con đến trường mẫu giáo từ rất sớm, như bao cha mẹ người Việt Nam khác cũng làm với con mình. Nhờ điều này mà con gái họ đã học tiếng Đức một cách chuẩn xác.

Hiện tại Dung đang học tại một trường Gymnasium ở Potsdam (thủ đô bang Brandenburg) và là một trong những học sinh giỏi nhất lớp với số điểm trung bình 1,5. Mùa hè năm ngoái Dung đã được nhận học bổng của quỹ Start, một mạng lưới tập hợp các nhà tài trợ khuyến khích các học sinh xuất sắc đến từ các gia đình nhập cư. Khoảng 30 phần trăm số học sinh được chọn cho quỹ này ở Đông Đức là người Việt Nam. Trong gia đình, Dung không phải là đứa trẻ tài năng duy nhất. Cả em gái và em trai của cô đều đi học ở trường Gymnasium và có kết quả học tập là số 1 đứng trước dấu phẩy.

Với kết quả tốt như vậy nhưng chị em cô không hề có ai trong gia đình có thể giúp đỡ kèm cặp trong việc học. Trong căn hộ của gia đình cô không có nhiều sách, cũng như trong phòng riêng của những đứa trẻ không có các loại đồ chơi mang tính chất giáo dục. Trong phòng khách, đối diện ban thờ với bát nhang nơi gia đình thờ các cụ là một cái ti vi màn hình phẳng to đùng. Căn hộ ở một vùng định cư ngoại ô Potsdam này khá chật chội. Ở sảnh ngoài chất đống những thùng các-tông nước hoa quả cho quán ăn di động của cha mẹ cô.

Buổi chiều ấy, gia đình Dung tụ họp quanh ấm trà, và ông Nguyễn, cha của Dung, kể chuyện. Người ta rất khó có thể hiểu những từ tiếng Đức ông cố gắng nói ra. Vì thế hai cô con gái dịch lại câu chuyện ông muốn kể. Ông đã đi Liên Xô cũ hợp tác lao động như thế nào và sau khi khối cộng sản ở Đông Âu sụp đổ ông đến Đức xin tị nạn ra sao. Gia đình ông sau nhiều năm không ổn định cuối cùng được phép ở lại Đức, với điều kiện phải tự kiếm sống nuôi bản thân. Cha mẹ Dung làm việc quần quật từ sáng đến 10 giờ đêm ở quán ăn di động và bán „Súp nước dừa cay“ hay „Mì ống kèm thịt gà rán giòn“.

Hầu hết người Việt Nam tự hành nghề để kiếm sống qua ngày. Họ không tìm được việc làm ở các hãng do khả năng ngôn ngữ hạn chế. Họ thường làm việc đến 60 tiếng một tuần trong các tiệm bán quà lưu niệm, bán hoa tươi, tiệm làm móng hay các chợ họp hàng tuần. Phần đông trong số họ cảm thấy có nhiệm vụ phải gửi tiền thường xuyên giúp đỡ người thân ở quê hương nên nỗi lo kiếm tiền càng thêm nặng.

Trẻ em thường phải giúp đỡ cha mẹ trong kinh doanh. Dung phải trông các em, bởi trong nhiều năm những đứa trẻ rất ít khi được gặp cha mẹ. Người mẹ thường chỉ về nhà vào buổi chiều một lát để nấu cơm. Thời gian còn lại những đứa trẻ phải tự lo cho nhau. Tuy nhiên chúng chăm chỉ học bài vào buổi chiều và mang về nhà những điểm số lấp lánh.
Làm sao điều đó có thể xảy ra, ông Nguyễn? Lý do nào giúp trẻ em Việt Nam học giỏi như thế? Lúc này người cha của Dung mới nở một nụ cười, sau suốt quãng thời gian nhìn rất nghiêm trang. Ông thích đề tài này hơn là kể chuyện quá khứ. Câu trả lời của ông đơn giản không thể tưởng tượng nổi: „Bởi tất cả cha mẹ người Việt Nam muốn con cái mình thành công ở trường.“ Người ta có thể diễn giải câu này như sau: Những đứa con được dạy từ rất sớm rằng chúng mang nợ cha mẹ điểm số tốt và chỉ có cách học hành thật chăm chỉ.

„Giáo dục là hàng hóa tối thượng đối với các gia đình người Việt“, Karin Weiss - bà trưởng ban phụ trách người nước ngoài bang Brandenburg – cho hay. Ngay cả khi cha mẹ có ít thời gian do phải làm việc nhiều, họ luôn hỏi thêm bài tập về nhà và sách vở cho con. Và nếu cần, họ còn đầu tư thêm giúp cho con thành công ở trường. Bà Weiss kể về những gia đình bà được biết là kinh tế rất khó khăn, tuy nhiên họ vẫn tiết kiệm từng đồng để có thể trả tiền học thêm ngoài giờ ở trường cho con. Dung và các em cô tuy không cần kiểu trợ giúp này từ cha mẹ, nhưng vẫn được hỗ trợ. Nếu ta nhìn quanh căn hộ được bài trí khá sơ sài của gia đình cô sẽ thấy một máy tính ở phòng trẻ em. Khi Dung muốn học đàn dương cầm, cha mẹ mua cho cô một cây đàn piano điện tử.

Niềm đam mê học hỏi của người Á Đông là món quà quý giá nhất họ mang theo từ quê hương. Chỉ có học mới giúp thoát khỏi kiếp nghèo, đó là một chân lý được truyền đi từ thế hệ này qua thế hệ khác. Giống như ở Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nhiều trẻ em ở Việt Nam đi học thêm ngoài giờ học ở trường. Lượng bài tập về nhà lớn hơn rất nhiều so với tại Đức. Vào cuối bậc tiểu học trẻ em Việt Nam đã học trước nhiều nghìn giờ học so với học sinh cùng độ tuổi ở Đức.

Sự vượt trội này giải thích một phần kết quả của một nghiên cứu được công bố vài năm trước đây bởi nhà tâm lý học Andreas Helmke, giáo sư trường đại học Koblenz-Landau. Ông đã kiểm tra các học sinh lớp Bốn ở thủ đô Hà Nội và thành phố Muenchen bằng các bài Toán giống nhau. Nhiều trường ở Hà Nội được trang bị cơ sở vật chất kém hơn nhiều so với Muenchen, 50 học sinh ngồi trong một lớp học là chuyện bình thường. Tuy nhiên các học sinh từ Việt Nam – một đất nước đang phát triển - đạt kết quả tốt hơn nhiều so với các học trò mười tuổi ở bang Bayern. „Ngay cả những bài Toán đòi hỏi kiến thức toán học sâu hơn, các em học sinh Việt Nam cũng làm tốt hơn“, ông giáo sư cho biết. Kết quả này phù hợp với những đánh giá của loạt nghiên cứu mang tên Pisa mà các nước Châu Á luôn ở nhóm dẫn đầu từ nhiều năm nay.

Phấn đấu không ngừng nghỉ, điều này cũng đúng với cộng đồng nhập cư Châu Á ở Đức. Nếu nói chuyện với những cha mẹ người Việt, nhiều câu nói của họ làm liên tưởng tới những chân lý vươn lên của Cộng hòa liên bang Đức những năm 50: „Không làm lấy gì mà ăn“ hay „Con hơn cha là nhà có phúc“. Có lẽ vì thế mà người ta gọi người Việt Nam là người Phổ ở Châu Á . Các cha mẹ là người nhập cư đến từ các nước khác thường gặp khó khăn với hệ thống giáo dục Đức đầy rắc rối, ngược lại, các cha mẹ người Việt hiểu ngay lập tức: Chỉ có trường Gymnasium – hay một lựa chọn ít hấp dẫn hơn là trường Gesamtschule – giúp học sinh lấy bằng tốt nghiệp phổ thông trung học (Abitur), các loại trường khác không có gì đáng bận tâm.

Chỉ một điểm 3 trong bảng kết quả học tập có thể rung chuông báo động đối với nhiều bậc cha mẹ. Việc không được thầy cô tiến cử con mình vào trường Gymnasium sau khi kết thúc bậc tiểu học có thể làm mất mặt cha mẹ trong cộng đồng. Long Minh Nguyễn, một chàng trai 20 tuổi, kể rằng có một cuộc đua khá căng thẳng giữa những cha mẹ người Việt với nhau. Nếu hai người cha hoặc hai người mẹ gặp nhau, một trong những câu hỏi đầu tiên là: Thế tụi trẻ học hành ra sao? Nếu kết quả học tập không vừa ý sẽ có các hình phạt như chửi mắng, nhốt con trong nhà hay thỉnh thoảng cũng cho con ăn tát.

„Cha mẹ tôi thường xuyên mắng tôi rằng các bạn khác có bảng thành tích học tập tốt hơn tôi“, Long nhớ lại. Họ không để ý rằng điểm số của anh không đạt đến mức được tiến cử vào trường Gymnasium. Nhưng cuối cùng thì nhờ cố gắng vượt bậc anh cũng đã lấy bằng tốt nghiệp phổ thông trung học với kết quả khá vào mùa hè năm ngoái. Nhiều cha mẹ người Việt tin rằng học trò khác nhau không ở trí thông minh mà ở sự cần cù. Họ hầu như tin rằng mỗi đứa trẻ đều có thể được giúp đỡ để học tốt hơn. Nhưng cũng đồng thời nếu đứa trẻ có kết quả học tập kém lại ít khi được thông cảm.

Ở trường Gymnasium Barnim, niềm vui về những tham vọng lớn của cha mẹ gần đây trộn lẫn với nỗi lo. Thầy cô giáo chỉ bắt đầu chú ý lắng nghe khi một số học sinh người Việt làm giả giấy khám bệnh của bác sĩ để xin lùi kỳ kiểm tra lại do sợ hãi bị điểm kém. Một lần khác, thầy hiệu trưởng Schmidt-Ihnen thông báo với một học sinh là sẽ gửi giấy về gia đình do cậu ta ý thức kém. Cậu này liền quỳ xuống van xin ông không mách cha mẹ. Trong ba mươi năm làm nghề giáo, đây là lần đầu tiên ông hiệu trưởng gặp cảnh tượng như thế.

Nhà trường lập tức tìm giải pháp. Một người làm công tác xã hội được mời đến trường mỗi thứ Sáu. Trường cũng tổ chức lần đầu tiên một buổi họp phụ huynh kèm người phiên dịch. Buổi họp kéo dài hàng giờ, các cha mẹ có rất nhiều thắc mắc. Nỗi lo lớn nhất của họ là nửa năm dự bị. Bởi gần đây không phải điểm số nào của học sinh người Việt đều tốt cả. Lần đầu tiên có thể xảy ra chuyện một số học sinh không qua được nửa năm dự bị ở trường Gymnasium Barnim. „Những học sinh người Việt dần dần giống như những học sinh bản xứ“, một cô giáo giải thích trào lưu này.

Nhưng có chuyện thật bình thường đối với một gia đình người Đức lại có thể dẫn đến một khủng hoảng thật sự trong cộng đồng người Việt. Bởi sự hòa nhập với tốc độ vũ bão của trẻ em làm các em xa rời cha mẹ nhiều hơn, đặc biệt khi các em đến tuổi dậy thì. „Những đứa trẻ đang sống trong hai nền văn hóa“, đó là nhận xét của Tamara Hentschel thuộc hội Trống Cơm, một tổ chức hỗ trợ người Việt từ khi nước Đức sát nhập. Giữa các thế hệ tồn tại một „Sự-không-thể-nói-nên-lời“. Bà Hentschel dùng từ này với chủ ý. Do nhiều đứa trẻ đã đi mẫu giáo từ rất sớm nên khi lớn lên nói tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt chỉ đủ vốn cho giao tiếp thông thường. Nếu chủ đề giữa con cái và cha mẹ trở nên nhạy cảm và rắc rối như chuyện nhận điểm kém hay có người bạn trai đầu tiên, hai bên sẽ bí từ hay mạnh ai nấy quát hoặc gào, bằng ngôn ngữ riêng của mỗi người. Trong trường hợp nghiêm trọng, những đứa trẻ sẽ từ chối cội nguồn văn hóa và từ chối ăn đồ ăn Việt hay thậm chí bỏ nhà ra đi.

Nhưng đó (còn) là những trường hợp cá biệt. Hầu hết các gia đình người Việt hòa thuận đoàn kết với nhau. Và sự kính trọng cha mẹ cũng lớn như tham vọng của riêng những đứa con. Ngay cả Long – người khá thẳng thắn trong phê bình những người đồng hương, cũng cho rằng: „Chúng tôi muốn học hỏi và tiến bộ. Chỉ có vậy chúng tôi mới mong có ngày thuộc vào tầng lớp ưu tú của đất nước này“.


Box: Thế hệ thứ hai

Ở nước Đức hiện có khoảng 85.000 người Việt Nam đang sinh sống. Tại các bang phía Đông Đức, cộng đồng người Việt là cộng đồng lớn nhất nếu không tính nhóm những người Đức gốc Nga. Tại Tây Đức những người gốc Việt chủ yếu gồm những thuyền nhân từ miền Nam Việt Nam tới Cộng hòa liên bang Đức vào cuối những năm 70. Những người tị nạn này gồm rất nhiều trẻ em và được xã hội Đức thời kỳ đó yêu mến quan tâm giúp đỡ nhiều mặt nên hòa nhập nhanh chóng và thường được nhập quốc tịch Đức. Nếu nói một cách rộng ra thì ông Philipp Rösler – tân Bộ trưởng kinh tế của bang Niedersachsen - cũng thuộc nhóm này. Nhà chính trị gia đảng tự do dân chủ FDP sinh ra ở Việt Nam và được một gia đình người Đức nhận làm con nuôi khi mới 9 tháng tuổi. Ông là thành viên đầu tiên trong nội các một chính phủ ở Đức có quá khứ di dân.

Những chàng trai và cô gái đến Cộng hòa dân chủ Đức vào giữa những năm 80 theo diện hợp tác lao động lại bị đối xử một cách hoàn toàn khác. Những công nhân hợp đồng này cần chung tay giúp đỡ nền kinh tế của đất nước xã hội chủ nghĩa anh em. Họ sống cách biệt với dân chúng Đông Đức thời đó, bởi không ai nghĩ đến việc ở lại. Những phụ nữ có thai sẽ bị bắt nạo phá bỏ hoặc phải về nước. Chính vì thế hầu hết chỉ lập gia đình sau khi nước Đức thống nhất và sinh con. Những đứa trẻ này giờ đây là các học sinh.

Sự đổ vỡ của Cộng hòa dân chủ Đức là một khó khăn lớn cho các công nhân hợp đồng. Họ thường là những người đầu tiên bị đuổi việc, sống nhiều năm trong hoàn cảnh giấy tờ cư trú không rõ ràng và phải đối mặt với các cuộc tấn công nhằm vào người nước ngoài, đặc biệt nghiêm trọng là khi một khu nhà ở của người Việt ở Lichtenhagen (Rostock, thuộc bang Mecklenburg-Vorpommern) bị đốt cháy. Các nhóm cực hữu tập trung tấn công nhằm vào người Việt (bị gọi với tên mang tính miệt thị là Fidschi).

Một phần ba trong khoảng 60.000 công nhân hợp đồng ở lại Đông Đức. Thêm vào số này là những đồng hương chạy từ các nước Đông Âu sang. Sau đó là làn sóng những người nhập cư bất hợp pháp bởi các nhóm đưa người trái phép. Không nhận được sự trợ giúp nào, họ phải tự cố gắng tồn tại. Điều này chỉ thành công khi họ tự hành nghề, ban đầu thường là buôn bán nhỏ lẻ lặt vặt ngoài vòng pháp luật. Hình ảnh người Việt Nam bán thuốc lá nhập lậu tràn ngập nhiều địa điểm ở Đông Berlin những năm 90. Sau thời kỳ này, nhiều người mở tiệm riêng. Ngày nay, thế hệ người Việt thứ nhất sống khá lặng lẽ trong một xã hội Việt riêng mà không có nhiều tiếp xúc với dân Đức. Điều này sẽ thay đổi ở thế hệ thứ hai.

6 nhận xét:

  1. Post nay nham go gac lai cai post the tham truoc do ha bac Marcus hihi ;)
    Nghe den Lichtenberg la em cu giat ca minh haha, such a shit hole, Berlin leaves me such bad impression because of that. May qua em da chay thoat!

    Trả lờiXóa
  2. @HA: Cái bài này có khen không đâu. Tụi trẻ cũng chịu nhiều áp lực khủng khiếp lắm.

    @An: Cảm ơn bạn đã ghé.

    Trả lờiXóa
  3. êh, té ra phụ huynh VN ở đâu cũng ép con học trối chết bác nhỉ? Bên Mỹ này cũng vậy, học trò VN được tiếng là chăm chỉ chắc do ba mẹ ép trối chết rồi phụ huynh compete lẫn nhau về thành tích của con cái. Thực ra cái sự ép này cũng đem lại điều hay đó là vd như chọi đá vào 1 đám người Mễ thì phần lớn làm nghề hái trái cây, thợ nề v.v còn chọi đá vô đám VN thì gặp toàn kỹ sư bác sĩ hahaha. Cũng là cách nói quá lên cho vui nhưng công nhận là các bác phụ huynh Dziệt Nam bên này dù qua Mỹ từ 1975 nay đẻ con ra cũng ép con học trối chết á :D

    Trả lờiXóa
  4. yeah i know it, i'm just kidding :)

    Trả lờiXóa
  5. Người Việt mình hay ép con cái học hành, phải bù lỗ cho thiết hụt của cha mẹ, ông bà. Nhưng cũng phải công nhận là ở nước ngoài (Các nước phát triển) thì học thức có lẽ là con đường duy nhất để thành công và thành danh.
    Cảm ơn bác vì bài này. rất hay

    Trả lờiXóa