Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2009

Hà Nội - Sài Gòn

Nồng nàn Hà Nội (Sáng tác Nguyễn Đức Cường, trình bày Lee Kirby)


Sài Gòn Miniature (Evil Penguin Production)

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2009

Bô xít Brazil - ô tô Châu Âu



Hồ Turucuí (Brazil) - hồ ngăn nước làm thủy điện phục vụ sản xuất bô xít thành nhôm. Ảnh: PlusMinus

Một nguyên nhân dẫn đến việc đói khát bô xít toàn cầu là do ngành công nghiệp sản xuất ô tô muốn tạo ra những chiếc xe nhẹ hơn, đỡ tiêu tốn nhiên liệu hơn và qua đó giảm bớt độ thải khí bẩn như CO2. Theo tính toán của tổng hiệp hội sản xuất nhôm toàn cầu, mỗi chiếc xe ô tô được sản xuất tại Châu Âu sẽ dùng đến 160 kg nhôm thay thế cho gang thép ở thời điểm 2010. Thế nhưng, quá trình sản xuất nhôm hiện đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Ở Brazil, tập đoàn Alcoa đã chiếm lấy một trong những mỏ bô xít lớn nhất toàn cầu. Thứ chất khoáng màu đỏ được dùng làm nguyên liệu sản xuất nhôm nằm chỉ vài mét dưới tán rừng nguyên sinh Amazonas gần Juruti Velho. Tập đoàn Alcoa dùng mọi cách để tô hồng hành động khai khoáng này: họ chi 19 triệu đô la cho các dự án xã hội và môi trường và khoe sẽ biến nơi đây thành "dự án khai mỏ tốt nhất thế giới" và thậm chí để lại "một tình trạng tốt đẹp hơn" cho cảnh vật, theo lời ông chủ tịch tập đoàn khu vực Nam Mỹ Franklin Feder. Tuy nhiên, việc khai khoáng này vấp phải phản đối của nhân dân.

Từ nhiều năm nay, người dân sống tại đây biểu tình chống lại dự án. Khoảng 9000 người dân vốn sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng và hồ nguyên sinh ở khu vực xây dựng mỏ khai khoáng. Họ không được đoái hoài tới và phải đấu tranh giành lấy quyền lợi trên mảnh đất tổ tiên họ đã sống hàng trăm năm nay. Mãi đến tháng 9 vừa qua, nhà nước Brazil mới chính thức công nhận quyền lợi của họ sau những cuộc tranh đấu mạnh mẽ của người dân.

Tuy vậy, nhiều người dân bản xứ vẫn chưa hài lòng. Họ sợ rằng các mỏ khoáng sẽ phá hoại môi sinh. Ngoài việc những vòi bơm khổng lồ hút mất 200 lít nước mỗi giây từ hồ để rửa khoáng, còn chất thải dưới dạng bùn đỏ không thể được đẩy xuống hồ vì sẽ làm chết các sinh vật dưới nước. Lời hứa trồng 6000 ha rừng của tập đoàn khai thác nhằm bù lại phần diện tích tàn phá cũng không được chấp nhận, vì rừng nguyên sinh không thể phục hồi hoàn toàn được bằng cách trồng mới.

Bên cạnh việc chất thải độc hại phải được chôn sâu xuống lòng đất, quá trình chuyển hóa bô xít thành nhôm còn tiêu tốn năng lượng điện khủng khiếp. Ở Brazil, nguồn điện thường được sản xuất bằng thủy điện. Một trong những nguồn điện chủ yếu cho ngành công nghiệp nhôm Brazil là hồ ngăn nước Tucuruí. Vùng hồ thủy điện này không được chặt cây trước khi bị ngâm hoàn toàn dưới nước. Giờ đây những cây cỏ dưới hồ bắt đầu phân hủy, quá trình này tạo nên một loại khí rất độc hại là Methan. Theo những nghiên cứu của tiến sĩ Günter Gunkel (đại học kỹ thuật Berlin) thì "về tổng quan, các hồ thủy điện không phải là một dạng năng lượng sạch. Lượng khí methan thải ra thậm chí lớn hơn lượng khí thải độc hại từ một nhà máy nhiệt điện cùng công suất".

Tàn phá rừng nguyên sinh nhiệt đới, sản xuất điện tổn hại môi trường - cái giá phải trả cho những chiếc xe ô tô nhẹ hơn, tốn ít nhiên liệu hơn thực ra quá đắt. "Các nước công nghiệp phát triển đang tìm cách giảm lượng khí thải nhà kính xuống bằng cách chuyển lượng khí thải đó sang các nước đang phát triển ở nơi xa xôi. Người dân ở các nước có công nghiệp sản xuất nhôm phải gánh chịu những vấn đề về môi trường." - nhà nghiên cứu khí hậu, Giáo sư Mojib Latif (Viện nghiên cứu Kiel) nhận xét.

***********
marcus (c) dựa theo bài viết của Michael Lang cho chương trình PlusMinus của đài truyền hình WDR (Đức). Một người bạn của marcus tham gia làm bộ phim tài liệu về việc sản xuất nhôm từ bô xít ở Brazil tàn phá môi trường ra sao. Phim vừa được chiếu trên đài truyền hình quốc gia ARD tuần qua.

Không lời 2



Đây là hình Cathrin chụp tại tỉnh Sơn Đông (Trung Quốc) vào tháng 8 vừa qua.

Nguồn: Cathrin Blog.

Thứ Tư, 28 tháng 10, 2009

Sự diệu kỳ Việt Nam

Hôm nay đi lang thang tự nhiên thấy Vietnamnet có đăng lại bài này từ Giáo dục và Thời đại. Bài không ghi tên người dịch.

Bài dưới đây do marcus dịch, theo thỏa thuận bản quyền với chính tác giả bài nguyên bản tiếng Đức Martin Spiewak của tuần báo die Zeit. Bài dịch này marcus đã từng gửi cho nhiều tổ chức cá nhân bên Đức đọc hồi đầu tháng 2 năm nay. Phần rút gọn đã đăng tại blog 360, và bài rút gọn nữa đã đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị (link không còn hoạt động, hic).

So sánh thì thấy bài trên GD&ĐT giống về cơ bản. Chuyện này bình thường vì cùng là bản dịch từ 1 bài báo. Tuy nhiên marcus cho rằng GD&ĐT không có bản quyền dịch vì Martin Spiewak chỉ có thỏa thuận duy nhất với marcus mà thôi. Nghĩ qua thì thấy có gì không ổn, nhưng mà thôi chắc tặc lưỡi cho qua vậy. Vì mục đích khi làm chuyện này của marcus là muốn mang thông tin đến cho người đọc tiếng Việt thôi.
*************************************************************

Sự diệu kỳ Việt Nam

Con cái những người nhập cư đến từ Việt nam gây chú ý bởi điểm số lung linh ở trường học. Sự thành công này đi ngược lại những định kiến trong cuộc bàn thảo về vấn đề hòa nhập.

Bài viết của Martin Spiewak (tuần báo die Zeit số ra ngày 22/01/2009)
Dịch sang tiếng Việt bởi Mạnh Cường Vũ. Các chú thích trong bài là của người dịch.
---------------------------------------------

Detlef Schmidt-Ihnen, hiệu trưởng trường Gymnasium Barnim ở quận Lichtenberg, Đông Berlin, vừa nhận được kết quả thi cấp quận của trường trong kỳ thi Olympic Toán học. Ông có thể vui mừng vì sáu học sinh được thi vòng tiếp theo ở cấp tiểu bang Berlin. Ở ngôi trường này điều đó không có gì đặc biệt bởi đã từ lâu các môn tự nhiên là điểm mạnh của trường. Nhưng một vấn đề tương đối mới là làm sao đọc đúng tên các học sinh này. Cô học trò lớp 7 tên là Trần Phương Duyên hay là Duyên Trần Phương? Và cậu Đức Đào Minh lớp 10?

Schmidt-Ihnen đối mặt với vấn đề này ngày một nhiều hơn: 17 phần trăm số học sinh đang học ở đây là con cái các gia đình Việt Nam, nếu tính riêng các lớp đầu cấp thậm chí con số này là 30 phần trăm. „Rất nhiều học sinh này đặc biệt giỏi các môn Tự nhiên“, ông hiệu trưởng cho biết. Học sinh giỏi nhất môn Toán của trường cũng là một cậu học trò gốc Việt Nam.

Không một cộng đồng nhập cư nào ở Đức thành công hơn ở trường học như người Việt Nam: Trên 50 phần trăm số học sinh người Việt vào được Gymnasium. Tỷ lệ này như vậy còn cao hơn cả học sinh Đức. Nếu so sánh với các học sinh gốc Thổ hay Ý thì tỷ lệ này thậm chí cao gấp năm lần. „Kết quả học tập của học sinh người Việt đối chọi rõ ràng với hình ảnh của trẻ em gốc gác nhập cư mà chúng ta thường có“, bà Karin Weiss - trưởng ban về người nước ngoài của bang Brandenburg cho biết.

Hai mươi năm sau khi bức tường Berlin sụp đổ, thế hệ sau của những người hợp tác lao động ở Cộng hòa Dân chủ Đức cũ đã viết nên một câu chuyện thành đạt còn ít người biết đến. Đến Đông Đức vào những năm giữa thập kỷ 80, và sau khi nước Đức thống nhất, những người lao động từ đất nước xã hội chủ nghĩa anh em thường bị mất việc làm hoặc lâm vào cảnh nghèo khổ, bị cô lập, là nạn nhân của sự thù ghét người nước ngoài. Ngược lại, con cái họ đang nỗ lực khẳng định vị trí của mình trong xã hội Đức, bằng sự cần cù lớn lao và lòng quyết tâm học tập. Bởi tâm lý đòi hỏi con cái phải đạt điểm cao trong các gia đình người Việt rất lớn.

Sự thành công này của học sinh người Việt đặt dấu hỏi cho một loạt những sự thật giả định của cuộc tranh luận về vấn đế hòa nhập. Ai mà cho rằng học dốt luôn có nguyên nhân về mặt xã hội, sẽ thấy mình sai khi xem xét ví dụ Việt Nam. Cả nhận định cho rằng cha mẹ phải hòa nhập trước thì con cái họ mới học hành tốt được cũng không đúng với cộng đồng người nhập cư Đông Á. Tất nhiên, những người cha người mẹ Việt Nam thế hệ thứ nhất thường có một trình độ học vấn cao hơn là người Thổ hay Ý. Nhưng họ cũng biết nói rất ít tiếng Đức, cũng sống trong một tập thể riêng biệt và tạo nên một kiểu xã hội đồng thời tồn tại song song với xã hội Đức.

Việc con cái họ mặc dù vậy vẫn là những học sinh kiểu mẫu đối với người nhập cư là minh chứng cho sức mạnh của một nền văn hóa mà niềm khát vọng giúp người ta nỗ lực vươn lên ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất. Điều này có thể được nhận thấy ở Mỹ, nơi tỷ lệ sinh viên đến từ các quốc gia châu Á – hay cụ thể hơn: các quốc gia chịu sự ảnh hưởng lớn của tư tưởng Khổng Tử - tại các trường đại học hàng đầu lớn hơn bất cứ vùng nào trên thế giới. Giờ đây sự diệu kỳ của giáo dục này được lặp lại ở Đức.

Dung Vân Nguyễn, 14 tuổi, đã từng sống nhiều năm với gia đình tại một trại người tị nạn. Cô gái trẻ không có nhiều ký ức xấu về thời gian này bởi cô luôn có bạn chơi cùng. Cha mẹ Dung ngược lại rất ghét chỗ ở chung thời đó: bếp dùng chung, va chạm cãi nhau giữa những tộc người khác nhau trong trại, trên hết là cái chật chội tù túng. Nhưng dù chật đến mấy vẫn không thể thiếu một chỗ: đó là bàn học của Dung. Và một điều nữa cha mẹ Dung cũng đã làm đúng: đó là gửi con đến trường mẫu giáo từ rất sớm, như bao cha mẹ người Việt Nam khác cũng làm với con mình. Nhờ điều này mà con gái họ đã học tiếng Đức một cách chuẩn xác.

Hiện tại Dung đang học tại một trường Gymnasium ở Potsdam (thủ đô bang Brandenburg) và là một trong những học sinh giỏi nhất lớp với số điểm trung bình 1,5. Mùa hè năm ngoái Dung đã được nhận học bổng của quỹ Start, một mạng lưới tập hợp các nhà tài trợ khuyến khích các học sinh xuất sắc đến từ các gia đình nhập cư. Khoảng 30 phần trăm số học sinh được chọn cho quỹ này ở Đông Đức là người Việt Nam. Trong gia đình, Dung không phải là đứa trẻ tài năng duy nhất. Cả em gái và em trai của cô đều đi học ở trường Gymnasium và có kết quả học tập là số 1 đứng trước dấu phẩy.

Với kết quả tốt như vậy nhưng chị em cô không hề có ai trong gia đình có thể giúp đỡ kèm cặp trong việc học. Trong căn hộ của gia đình cô không có nhiều sách, cũng như trong phòng riêng của những đứa trẻ không có các loại đồ chơi mang tính chất giáo dục. Trong phòng khách, đối diện ban thờ với bát nhang nơi gia đình thờ các cụ là một cái ti vi màn hình phẳng to đùng. Căn hộ ở một vùng định cư ngoại ô Potsdam này khá chật chội. Ở sảnh ngoài chất đống những thùng các-tông nước hoa quả cho quán ăn di động của cha mẹ cô.

Buổi chiều ấy, gia đình Dung tụ họp quanh ấm trà, và ông Nguyễn, cha của Dung, kể chuyện. Người ta rất khó có thể hiểu những từ tiếng Đức ông cố gắng nói ra. Vì thế hai cô con gái dịch lại câu chuyện ông muốn kể. Ông đã đi Liên Xô cũ hợp tác lao động như thế nào và sau khi khối cộng sản ở Đông Âu sụp đổ ông đến Đức xin tị nạn ra sao. Gia đình ông sau nhiều năm không ổn định cuối cùng được phép ở lại Đức, với điều kiện phải tự kiếm sống nuôi bản thân. Cha mẹ Dung làm việc quần quật từ sáng đến 10 giờ đêm ở quán ăn di động và bán „Súp nước dừa cay“ hay „Mì ống kèm thịt gà rán giòn“.

Hầu hết người Việt Nam tự hành nghề để kiếm sống qua ngày. Họ không tìm được việc làm ở các hãng do khả năng ngôn ngữ hạn chế. Họ thường làm việc đến 60 tiếng một tuần trong các tiệm bán quà lưu niệm, bán hoa tươi, tiệm làm móng hay các chợ họp hàng tuần. Phần đông trong số họ cảm thấy có nhiệm vụ phải gửi tiền thường xuyên giúp đỡ người thân ở quê hương nên nỗi lo kiếm tiền càng thêm nặng.

Trẻ em thường phải giúp đỡ cha mẹ trong kinh doanh. Dung phải trông các em, bởi trong nhiều năm những đứa trẻ rất ít khi được gặp cha mẹ. Người mẹ thường chỉ về nhà vào buổi chiều một lát để nấu cơm. Thời gian còn lại những đứa trẻ phải tự lo cho nhau. Tuy nhiên chúng chăm chỉ học bài vào buổi chiều và mang về nhà những điểm số lấp lánh.
Làm sao điều đó có thể xảy ra, ông Nguyễn? Lý do nào giúp trẻ em Việt Nam học giỏi như thế? Lúc này người cha của Dung mới nở một nụ cười, sau suốt quãng thời gian nhìn rất nghiêm trang. Ông thích đề tài này hơn là kể chuyện quá khứ. Câu trả lời của ông đơn giản không thể tưởng tượng nổi: „Bởi tất cả cha mẹ người Việt Nam muốn con cái mình thành công ở trường.“ Người ta có thể diễn giải câu này như sau: Những đứa con được dạy từ rất sớm rằng chúng mang nợ cha mẹ điểm số tốt và chỉ có cách học hành thật chăm chỉ.

„Giáo dục là hàng hóa tối thượng đối với các gia đình người Việt“, Karin Weiss - bà trưởng ban phụ trách người nước ngoài bang Brandenburg – cho hay. Ngay cả khi cha mẹ có ít thời gian do phải làm việc nhiều, họ luôn hỏi thêm bài tập về nhà và sách vở cho con. Và nếu cần, họ còn đầu tư thêm giúp cho con thành công ở trường. Bà Weiss kể về những gia đình bà được biết là kinh tế rất khó khăn, tuy nhiên họ vẫn tiết kiệm từng đồng để có thể trả tiền học thêm ngoài giờ ở trường cho con. Dung và các em cô tuy không cần kiểu trợ giúp này từ cha mẹ, nhưng vẫn được hỗ trợ. Nếu ta nhìn quanh căn hộ được bài trí khá sơ sài của gia đình cô sẽ thấy một máy tính ở phòng trẻ em. Khi Dung muốn học đàn dương cầm, cha mẹ mua cho cô một cây đàn piano điện tử.

Niềm đam mê học hỏi của người Á Đông là món quà quý giá nhất họ mang theo từ quê hương. Chỉ có học mới giúp thoát khỏi kiếp nghèo, đó là một chân lý được truyền đi từ thế hệ này qua thế hệ khác. Giống như ở Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc, nhiều trẻ em ở Việt Nam đi học thêm ngoài giờ học ở trường. Lượng bài tập về nhà lớn hơn rất nhiều so với tại Đức. Vào cuối bậc tiểu học trẻ em Việt Nam đã học trước nhiều nghìn giờ học so với học sinh cùng độ tuổi ở Đức.

Sự vượt trội này giải thích một phần kết quả của một nghiên cứu được công bố vài năm trước đây bởi nhà tâm lý học Andreas Helmke, giáo sư trường đại học Koblenz-Landau. Ông đã kiểm tra các học sinh lớp Bốn ở thủ đô Hà Nội và thành phố Muenchen bằng các bài Toán giống nhau. Nhiều trường ở Hà Nội được trang bị cơ sở vật chất kém hơn nhiều so với Muenchen, 50 học sinh ngồi trong một lớp học là chuyện bình thường. Tuy nhiên các học sinh từ Việt Nam – một đất nước đang phát triển - đạt kết quả tốt hơn nhiều so với các học trò mười tuổi ở bang Bayern. „Ngay cả những bài Toán đòi hỏi kiến thức toán học sâu hơn, các em học sinh Việt Nam cũng làm tốt hơn“, ông giáo sư cho biết. Kết quả này phù hợp với những đánh giá của loạt nghiên cứu mang tên Pisa mà các nước Châu Á luôn ở nhóm dẫn đầu từ nhiều năm nay.

Phấn đấu không ngừng nghỉ, điều này cũng đúng với cộng đồng nhập cư Châu Á ở Đức. Nếu nói chuyện với những cha mẹ người Việt, nhiều câu nói của họ làm liên tưởng tới những chân lý vươn lên của Cộng hòa liên bang Đức những năm 50: „Không làm lấy gì mà ăn“ hay „Con hơn cha là nhà có phúc“. Có lẽ vì thế mà người ta gọi người Việt Nam là người Phổ ở Châu Á . Các cha mẹ là người nhập cư đến từ các nước khác thường gặp khó khăn với hệ thống giáo dục Đức đầy rắc rối, ngược lại, các cha mẹ người Việt hiểu ngay lập tức: Chỉ có trường Gymnasium – hay một lựa chọn ít hấp dẫn hơn là trường Gesamtschule – giúp học sinh lấy bằng tốt nghiệp phổ thông trung học (Abitur), các loại trường khác không có gì đáng bận tâm.

Chỉ một điểm 3 trong bảng kết quả học tập có thể rung chuông báo động đối với nhiều bậc cha mẹ. Việc không được thầy cô tiến cử con mình vào trường Gymnasium sau khi kết thúc bậc tiểu học có thể làm mất mặt cha mẹ trong cộng đồng. Long Minh Nguyễn, một chàng trai 20 tuổi, kể rằng có một cuộc đua khá căng thẳng giữa những cha mẹ người Việt với nhau. Nếu hai người cha hoặc hai người mẹ gặp nhau, một trong những câu hỏi đầu tiên là: Thế tụi trẻ học hành ra sao? Nếu kết quả học tập không vừa ý sẽ có các hình phạt như chửi mắng, nhốt con trong nhà hay thỉnh thoảng cũng cho con ăn tát.

„Cha mẹ tôi thường xuyên mắng tôi rằng các bạn khác có bảng thành tích học tập tốt hơn tôi“, Long nhớ lại. Họ không để ý rằng điểm số của anh không đạt đến mức được tiến cử vào trường Gymnasium. Nhưng cuối cùng thì nhờ cố gắng vượt bậc anh cũng đã lấy bằng tốt nghiệp phổ thông trung học với kết quả khá vào mùa hè năm ngoái. Nhiều cha mẹ người Việt tin rằng học trò khác nhau không ở trí thông minh mà ở sự cần cù. Họ hầu như tin rằng mỗi đứa trẻ đều có thể được giúp đỡ để học tốt hơn. Nhưng cũng đồng thời nếu đứa trẻ có kết quả học tập kém lại ít khi được thông cảm.

Ở trường Gymnasium Barnim, niềm vui về những tham vọng lớn của cha mẹ gần đây trộn lẫn với nỗi lo. Thầy cô giáo chỉ bắt đầu chú ý lắng nghe khi một số học sinh người Việt làm giả giấy khám bệnh của bác sĩ để xin lùi kỳ kiểm tra lại do sợ hãi bị điểm kém. Một lần khác, thầy hiệu trưởng Schmidt-Ihnen thông báo với một học sinh là sẽ gửi giấy về gia đình do cậu ta ý thức kém. Cậu này liền quỳ xuống van xin ông không mách cha mẹ. Trong ba mươi năm làm nghề giáo, đây là lần đầu tiên ông hiệu trưởng gặp cảnh tượng như thế.

Nhà trường lập tức tìm giải pháp. Một người làm công tác xã hội được mời đến trường mỗi thứ Sáu. Trường cũng tổ chức lần đầu tiên một buổi họp phụ huynh kèm người phiên dịch. Buổi họp kéo dài hàng giờ, các cha mẹ có rất nhiều thắc mắc. Nỗi lo lớn nhất của họ là nửa năm dự bị. Bởi gần đây không phải điểm số nào của học sinh người Việt đều tốt cả. Lần đầu tiên có thể xảy ra chuyện một số học sinh không qua được nửa năm dự bị ở trường Gymnasium Barnim. „Những học sinh người Việt dần dần giống như những học sinh bản xứ“, một cô giáo giải thích trào lưu này.

Nhưng có chuyện thật bình thường đối với một gia đình người Đức lại có thể dẫn đến một khủng hoảng thật sự trong cộng đồng người Việt. Bởi sự hòa nhập với tốc độ vũ bão của trẻ em làm các em xa rời cha mẹ nhiều hơn, đặc biệt khi các em đến tuổi dậy thì. „Những đứa trẻ đang sống trong hai nền văn hóa“, đó là nhận xét của Tamara Hentschel thuộc hội Trống Cơm, một tổ chức hỗ trợ người Việt từ khi nước Đức sát nhập. Giữa các thế hệ tồn tại một „Sự-không-thể-nói-nên-lời“. Bà Hentschel dùng từ này với chủ ý. Do nhiều đứa trẻ đã đi mẫu giáo từ rất sớm nên khi lớn lên nói tiếng Đức như tiếng mẹ đẻ, còn tiếng Việt chỉ đủ vốn cho giao tiếp thông thường. Nếu chủ đề giữa con cái và cha mẹ trở nên nhạy cảm và rắc rối như chuyện nhận điểm kém hay có người bạn trai đầu tiên, hai bên sẽ bí từ hay mạnh ai nấy quát hoặc gào, bằng ngôn ngữ riêng của mỗi người. Trong trường hợp nghiêm trọng, những đứa trẻ sẽ từ chối cội nguồn văn hóa và từ chối ăn đồ ăn Việt hay thậm chí bỏ nhà ra đi.

Nhưng đó (còn) là những trường hợp cá biệt. Hầu hết các gia đình người Việt hòa thuận đoàn kết với nhau. Và sự kính trọng cha mẹ cũng lớn như tham vọng của riêng những đứa con. Ngay cả Long – người khá thẳng thắn trong phê bình những người đồng hương, cũng cho rằng: „Chúng tôi muốn học hỏi và tiến bộ. Chỉ có vậy chúng tôi mới mong có ngày thuộc vào tầng lớp ưu tú của đất nước này“.


Box: Thế hệ thứ hai

Ở nước Đức hiện có khoảng 85.000 người Việt Nam đang sinh sống. Tại các bang phía Đông Đức, cộng đồng người Việt là cộng đồng lớn nhất nếu không tính nhóm những người Đức gốc Nga. Tại Tây Đức những người gốc Việt chủ yếu gồm những thuyền nhân từ miền Nam Việt Nam tới Cộng hòa liên bang Đức vào cuối những năm 70. Những người tị nạn này gồm rất nhiều trẻ em và được xã hội Đức thời kỳ đó yêu mến quan tâm giúp đỡ nhiều mặt nên hòa nhập nhanh chóng và thường được nhập quốc tịch Đức. Nếu nói một cách rộng ra thì ông Philipp Rösler – tân Bộ trưởng kinh tế của bang Niedersachsen - cũng thuộc nhóm này. Nhà chính trị gia đảng tự do dân chủ FDP sinh ra ở Việt Nam và được một gia đình người Đức nhận làm con nuôi khi mới 9 tháng tuổi. Ông là thành viên đầu tiên trong nội các một chính phủ ở Đức có quá khứ di dân.

Những chàng trai và cô gái đến Cộng hòa dân chủ Đức vào giữa những năm 80 theo diện hợp tác lao động lại bị đối xử một cách hoàn toàn khác. Những công nhân hợp đồng này cần chung tay giúp đỡ nền kinh tế của đất nước xã hội chủ nghĩa anh em. Họ sống cách biệt với dân chúng Đông Đức thời đó, bởi không ai nghĩ đến việc ở lại. Những phụ nữ có thai sẽ bị bắt nạo phá bỏ hoặc phải về nước. Chính vì thế hầu hết chỉ lập gia đình sau khi nước Đức thống nhất và sinh con. Những đứa trẻ này giờ đây là các học sinh.

Sự đổ vỡ của Cộng hòa dân chủ Đức là một khó khăn lớn cho các công nhân hợp đồng. Họ thường là những người đầu tiên bị đuổi việc, sống nhiều năm trong hoàn cảnh giấy tờ cư trú không rõ ràng và phải đối mặt với các cuộc tấn công nhằm vào người nước ngoài, đặc biệt nghiêm trọng là khi một khu nhà ở của người Việt ở Lichtenhagen (Rostock, thuộc bang Mecklenburg-Vorpommern) bị đốt cháy. Các nhóm cực hữu tập trung tấn công nhằm vào người Việt (bị gọi với tên mang tính miệt thị là Fidschi).

Một phần ba trong khoảng 60.000 công nhân hợp đồng ở lại Đông Đức. Thêm vào số này là những đồng hương chạy từ các nước Đông Âu sang. Sau đó là làn sóng những người nhập cư bất hợp pháp bởi các nhóm đưa người trái phép. Không nhận được sự trợ giúp nào, họ phải tự cố gắng tồn tại. Điều này chỉ thành công khi họ tự hành nghề, ban đầu thường là buôn bán nhỏ lẻ lặt vặt ngoài vòng pháp luật. Hình ảnh người Việt Nam bán thuốc lá nhập lậu tràn ngập nhiều địa điểm ở Đông Berlin những năm 90. Sau thời kỳ này, nhiều người mở tiệm riêng. Ngày nay, thế hệ người Việt thứ nhất sống khá lặng lẽ trong một xã hội Việt riêng mà không có nhiều tiếp xúc với dân Đức. Điều này sẽ thay đổi ở thế hệ thứ hai.

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2009

Người gốc Việt đầu tiên trong nội các chính phủ Đức


Sau kỳ bầu cử vào cuối tháng 9 vừa qua, liên minh ba Đảng thắng cử đã thành lập nội các mới với một quyết định đi vào lịch sử: vị bộ trưởng trẻ nhất sinh ra tại Việt Nam.

Trong danh sách nội các chính phủ mới của Cộng hòa liên bang (CHLB) Đức vừa được công bố, Philipp Rösler, đảng Dân chủ Tự do (FDP), đương kim bộ trưởng kinh tế bang Niedersachsen, sẽ đến Berlin đảm nhiệm cương vị mới: bộ trưởng bộ y tế. Quyết định này được coi là sự bất ngờ lớn nhất và mang tính lịch sử cao: bác sĩ, tiến sĩ Rösler mới 36 tuổi và mang gương mặt Châu Á điển hình. Như vậy, ông là thành viên nội các chính phủ liên bang đầu tiên có quá khứ di dân. Bộ y tế là một cơ quan rất được chú ý trong xã hội Đức vì đảm nhiệm việc chăm sóc sức khỏe người dân với một hệ thống bảo hiểm gây nhiều tranh cãi và được đòi hỏi phải cải tổ nhiều năm trở lại đây.

Câu chuyện cuộc đời ông Philipp Rösler mang tính chất của một truyện phim. Là trẻ mồ côi sinh ra tại Nha Trang năm 1973, ông được cha mẹ người Đức nhận mang về Hamburg nuôi vào tháng 11 cùng năm. Khi mới 4 tuổi, cha mẹ ông ly dị. Ở trường học ông được đánh giá là thông minh xuất chúng. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông vào quân đội nối nghiệp cha và trở thành bác sĩ. Năm 2006, ông cùng vợ - cũng là một bác sĩ - về thăm lại nơi sinh ra lần đầu tiên trong đời. Năm ngoái, ông trở thành cha của hai đứa con sinh đôi.

Con đường của Philipp Rösler là ví dụ đặc biệt cho sự tiến thân nhanh chóng trong sự nghiệp chính trị với những quyết định chính xác ở từng thời điểm. Năm 2005, ông đã từng được chủ tịch Đảng FDP Guido Westerwelle mời về làm tổng thư ký Đảng, nhưng ông từ chối và ở lại làm chính trị tại bang Niedersachsen. Năm 2006, ông trở thành chủ tịch Đảng cấp bang và là bộ trưởng kinh tế của bang này từ năm 2008 sau cuộc tranh cử thành công.

Với mong ước mang đến cho mọi người dân một chế độ giáo dục và dạy nghề tốt để họ có thể tự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai, Philipp Rösler được nhìn nhận là đã đem lại một làn gió mới nghiêng về chính sách xã hội trong nội bộ đảng FDP vốn được coi là đảng của người giàu. Nhờ đó đảng FDP đã có chiến thắng ngoạn mục khi nhận được 14,6% số phiếu bầu và trở thành đối tác đàm phán số một của liên minh chính phủ mới.

Tuy nhiên, công việc trong cương vị bộ trưởng bộ y tế của ông sẽ không dễ dàng. Ngay trong dự quyết về tiến trình cải tổ chế độ chăm sóc sức khỏe người dân, ông đã phải chịu sự chỉ trích về những thay đổi có thể tiếp tục khuyến khích sự cách biệt giàu nghèo trong xã hội. Ngoài ra, việc đối phó với đại dịch cúm H1N1 trong mùa Đông cũng sẽ trở thành một đề tài nóng bỏng trong những ngày đầu tiên ở vị trí bộ trưởng.

Chính phủ Đức mới gồm bà Angela Merkel – thủ tướng, ông Guido Westerwelle – phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ ngoại giao và 14 thành viên khác. Liên minh đảng CDU, CSU và FDP được coi là sự chọn lựa khôn ngoan để đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra và ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế Đức – nhà xuất khẩu lớn nhất trên thế giới.

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2009

Mỗi bậc thang đời cũng nở

Stufen

Wie jede Blüte welkt und jede Jugend
Dem Alter weicht, blüht jede Lebensstufe,
Blüht jede Weisheit auch und jede Tugend
Zu ihrer Zeit und darf nicht ewig dauern.
Es muß das Herz bei jedem Lebensrufe
Bereit zum Abschied sein und Neubeginne,
Um sich in Tapferkeit und ohne Trauern
In andre, neue Bindungen zu geben.
Und jedem Anfang wohnt ein Zauber inne,
Der uns beschützt und der uns hilft, zu leben.

Wir sollen heiter Raum um Raum durchschreiten,
An keinem wie an einer Heimat hängen,
Der Weltgeist will nicht fesseln uns und engen,
Er will uns Stuf' um Stufe heben, weiten.
Kaum sind wir heimisch einem Lebenskreise
Und traulich eingewohnt, so droht Erschlaffen,
Nur wer bereit zu Aufbruch ist und Reise,
Mag lähmender Gewöhnung sich entraffen.

Es wird vielleicht auch noch die Todesstunde
Uns neuen Räumen jung entgegen senden,
Des Lebens Ruf an uns wird niemals enden...
Wohlan denn, Herz, nimm Abschied und gesunde!


-Hermann Hesse-

marcus dịch khổ đầu của bài thơ này để tặng hai người, một là Lê Trọng Hiếu aka Viet.E. hôm nay tròn 32 tuổi, hai là Goldmund con trai của Hesse aka "luật sư yêu sách nhất thời đại".

Những bậc thang

Như mỗi cánh hoa tàn và mỗi thời trẻ trung
Mềm đi vì tuổi, mỗi bậc thang đời cũng nở
Mỗi trải nghiệm cũng nở và mỗi thời trẻ trung
Nở vào thời của nó và chẳng kéo dài mãi.
Mỗi tiếng đời gọi là trái tim phải
Sẵn sàng chia ly và bắt đầu mới,
Với lòng quả cảm và không tiếc nuối
Đón chào những ràng buộc khác và mới.
Trong mỗi khởi đầu ẩn một phép màu,
Bảo vệ ta và giúp ta sống tới.

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2009

Vào bếp với marcus 4: Live cooking

Hôm nay đi bác sĩ tai mũi họng, tiện thể rẽ qua siêu thị Basic bán toàn đồ bio/organic mua đồ ăn. Nhìn cái gì cũng muốn mua, tại vì cái gì cũng ngon, và biết chắc là ăn sẽ rất ngon vì nguồn gốc đảm bảo về vấn đề vệ sinh và môi trường, mỗi tội mắc tiền. Cuối cùng cũng xách về trên ghi đông xe đạp hai túi vải lặc lè. Câu "tiền nào của nấy" trong trường hợp này là rất đúng. Thế nên ai có điều kiện mua đồ bio thì nhớ đừng tiếc tiền nhé. Tất cả vì sự ngon miệng và sức khỏe :)

Được mọi người cổ vũ vụ vào bếp, tôi rất là cảm kích. Không những chỉ là chia sẻ, mà còn là cách để khuyến khích mọi người cũng vào bếp. Nói gì thì nói, cái mình tự nấu ra, với một tâm trạng vui, khi ăn thường sẽ ngon hơn là ăn ngoài nhà hàng.

Cách đây một tiếng rưỡi, tôi nấu nướng lui cui trong bếp, và ý thức chụp hình lại để chia sẻ (là phụ) khoe khoang (là chính) với mọi người. Live cooking hôm nay nha!

Thực đơn hôm nay gồm món tôm xào nấm gừng, tráng miệng bằng kem gừng.

(À quên chưa nói là tất cả cái serie vào bếp này nếu không có chú thích gì thêm thì sản phẩm đủ ăn cho 2 người lớn nha.)

Nguyên liệu:

- 250 gam tôm đã bóc vỏ.


- 300 gam nấm tươi (đừng hỏi marcus tên loại nấm, chịu. Ai biết thì hê lên nha).


- hành lá 3 cọng, hành tây nửa củ.


- gừng 1 nhánh.
- dưa chuột 2 quả.
- cà chua baby (cherry tomato) 6 quả.
- kem gừng 200 ml.

Chuẩn bị:

- Tôm nếu là đông lạnh thì hoặc để rã đông rồi rửa qua nước lạnh hoặc trần qua nước lạnh theo hướng dẫn tại vào bếp với marcus 2.
- Nấm tươi rửa qua nước lạnh, phần chân bụi nấm lọc bỏ rơm rạ bám vào nếu có. Tước từng cọng nấm theo nguyên bản từng thân nấm.
- Hành lá rửa sạch, cắt khúc chừng 2 cm.
- Hành tây bóc vỏ, thái thành lát ngang củ, rồi bổ đôi từng lát.
- Dưa chuột rửa sạch, cắt làm tư dọc thân.
- Gừng để nguyên vỏ, rửa sạch, thái lát dọc thân thành từng miếng to bản. Để 2 miếng trang trí kem, còn lại thái chỉ.




Cách nấu:

- Cho một chút dầu ăn vào chảo, làm nóng chảo.
- Cho hành tây vào đảo đều, khi miếng hành tây hơi săn lại, cho tôm vào đảo đều. Nêm một chút nước mắm. Lấy tôm xào hành tây ra bát.
- Cho một chút dầu ăn vào chảo, rồi cho nấm vào đảo đều. Cho gừng vào. Sau khoảng 1 phút cho bát tôm xào hành tây vào. Cho thêm hành lá đảo đều chừng nửa phút. Tắt bếp.

Trình bày:


Thành phẩm:

Nấm còn độ dai, không bị nát, thơm mùi tôm, hành tây, hành lá và gừng. Ăn với cơm trắng, uống kèm rượu vang trắng.



Tráng miệng:

Kem gừng.


Chúc cả nhà ngon miệng!

Vào bếp với marcus 3

Hôm trước qua nhà em imagine, tự dưng nhắc đến bún chả, thế là thèm quá vội làm, chỉ cho mình mình ăn, nên ăn đến ngày hôm sau vẫn chưa hết vì mất công làm một lần. Chuẩn bị chả xong xuôi nhìn lại thì thấy không còn bún, chỉ còn phở. Thế là thành món phở chả. hehehe.

Rồi, sau đây là món chả nướng lò.

Nguyên liệu:

- Thịt ba chỉ loại ngon 500 gam.
- Hành lá 2 cọng.
- Nước mắm, tiêu, ớt, chanh, đường.

Cách làm:

Thịt rửa qua nước lạnh. Thái thật mỏng thành miếng chừng 2 đốt ngón tay. Chú ý là thịt ba chỉ phải để nguyên bì mới ngon chứ không nên lọc bì.

Trong lúc thái thịt thì bật sẵn lò ở mức 220 độ có thông gió để lò nóng trước.

Lấy một bát tô loại vừa, pha nước mắm, chêm tiêu, một chút chanh (ít thôi), một chút ớt và một chút đường khuấy đều.

Hành hoa thái nhỏ chừng 2-3 mm. Trộn hành hoa vào bát nước mắm.

Vỉ nướng lót giấy bạc.

Lấy từng miếng thịt (hoặc vài miếng cũng được cho nhanh) nhúng vào bát nước mắm, đẩy qua lại cho ngấm, rồi rải đều lên vỉ.

Cho vỉ nướng vào lò lúc này đã nóng sẵn, ở khoảng giữa lò. (Chú ý dùng bao tay để khỏi bị bỏng).

Đợi chừng 10 phút. Thịt bắt đầu ngả vàng.

Khi bì thịt vàng ươm là được.
Chú ý khi lấy vỉ nướng ra khỏi lò nhớ dùng bao tay tránh bỏng và tắt lò. Sau khi lấy thịt ra bát hoặc đĩa xong xuôi nhớ mở hé lò để thông hơi.

Thành phẩm:

Miếng chả vàng đều, ăn bì hơi giòn, thịt mềm, thơm mùi tiêu mắm hành.
Ăn với bún, rau thơm.
Uống kèm vang đỏ loại khô.

Chúc cả nhà ngon miệng!

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2009

Vợ

Ben là người Mỹ, trước đây từng sống ở Hà Nội một năm, nay sang Nhật Bản mấy tháng dạy tiếng Anh. Ben là người viết blog rất khỏe, hầu như ngày nào cũng sòn sòn một entry.

Trong entry mới nhất, Ben kể về chuyện dạy học ở Nhật Bản. Học trò của Ben là các sinh viên ngành kỹ thuật, hầu hết là nam giới. Trong trò chơi đoán từ, người chơi quay lưng lại bảng và nhờ trợ giúp của các bạn ở dưới cần phải đoán từ mà Ben viết ra trên bảng. Lần này là từ "Vợ".

Những học trò của Ben gặp khó khăn khi phải đưa ra giải thích cho người chơi. 30 giây trôi qua mới có một người nói: "Người này là đối lập của chồng." Người chơi vẫn chưa đoán ra. Khoảng 30 giây nữa mới có người nói: "Đấy là một nghề. Người này phải biết nấu nướng và dọn dẹp." Ngay lập tức, tất cả đều ồ lên thích thú và người chơi cũng đoán ra luôn.

Vợ, như thế đối với đàn ông Nhật Bản, là một nghề với năng lực cần thiết là nấu ăn và dọn vệ sinh.

Ben kết luận rằng nữ quyền ở Nhật Bản dường như chưa đến được khắp nơi với một sức mạnh hoàn toàn.

Nếu bạn, một người đọc hiểu tiếng Việt, phải định nghĩa chữ "vợ" để cho người chơi đoán được ra, bạn sẽ nói gì?

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2009

Sáng Chủ Nhật

Lâu lâu rồi không có entry nào nhiều hình. Lắm chữ quá chắc ít người đủ kiên nhẫn đọc cho hết.

Sáng Chủ Nhật dậy sớm theo nhịp hàng ngày, chịu bị rủ đi bộ ra công viên trong một ngày thu đẹp hiếm hoi. Dọc đường phát hiện được nhiều thứ hay ho mà thường ngày đạp xe vội vã chẳng hề để ý.

1. Graffiti bên hông một tòa nhà:

2. TV bỏ ngoài phố:

3. Phố vắng tanh:


4. Thu à, thu ơi:

5. Đường đi làm hàng ngày:

6. Màu à, màu ơi:

7. Đỏ à, đỏ ơi:

8. Biển báo độ dốc cho người đi xe lăn:

9. Nhà tù giữa thành phố, ngay cạnh công viên và tháp truyền hình không xa:

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

Mây

Chuyến bay mang số hiệu VA 871 của hãng hàng không VietAir cất cánh hơi muộn hơn so với lịch trình dự kiến, vì bộ phận tiếp nhiên liệu gặp phải một sự cố nhỏ. Khi chiếc Boeing 737-800 rời khỏi đường băng Tân Sơn Nhất, trời chiều quang đãng, nắng cuối tháng Chín lùa vào cánh trái máy bay những dải vàng lấp lánh.

Hòa chỉnh lại chiếc cà vạt màu tím nhạt lần cuối, kéo lại áo sơ mi trắng cho phẳng phiu, trước khi bước ra hành lang ca bin đi lên phần giữa khoang để chuẩn bị hướng dẫn hành khách những chi tiết an toàn cho chuyến bay. Theo sau anh với dáng vẻ hơi rụt rè là Sâm – chàng trai trẻ nhất tổ với chuyến bay thực tế đầu tiên – cậu dừng lại ở phần nửa cuối khoang. Ở trên phần đầu khoang, Lam trong chiếc áo sơ mi ngắn tay trắng cổ thắt nơ màu xanh da trời đang tươi cười vào vị trí, hơi nghiêng đầu chào đồng nghiệp. Phối hợp nhịp nhàng với giọng nói Sài Gòn truyền cảm của Vân, tiếp viên trưởng, Hòa và Lam bắt đầu những động tác thuần thục, riêng Sâm hơi luống cuống một chút. Đây là chuyến bay quốc tế thứ mười bảy cùng nhau của tổ tiếp viên số 22.

Dọc dải đất miền Trung men theo bờ biển, những đụn mây trắng pha hồng bồng bềnh ngoài cửa sổ xếp hàng theo một trật tự mơ hồ như hằng hà sa số những chiếc kem bông được rao bán bởi hàng trăm người khác nhau ở một lễ hội náo nhiệt nhưng không hỗn loạn tại sân vận động Lạch Tray. Khẽ cười vu vơ với liên tưởng của mình, Sâm rời khỏi cửa sổ, bắt đầu đi từng hàng ghế, từ cuối khoang, nhẹ nhàng cúi người bật đèn cho những khách đang mải mê đọc sách, báo hay tạp chí mà quên rằng trời đã ngả sang hoàng hôn. Lượt phục vụ đồ ăn và nước uống vừa xong. Xuất phát sau Sâm chừng 10 phút, Vân dừng lại ở những khách ngồi hai bên rìa hành lang lối đi và đang không tỏ ra quá bận rộn, mỉm cười thật tươi và mời họ điền vào một bảng đánh giá phục vụ của chuyến bay. Chừng hai phần ba những người được hỏi vui vẻ nhận phiếu và chiếc bút bi màu bạc in hình logo hãng hàng không gồm hai màu tím và xanh da trời. Một kết quả tuyệt vời cho sự hài lòng không nằm ngoài dự đoán. Đây là bài học đầu tiên của Sâm trong nghề tiếp viên. Sự chu đáo tận tâm để đổi lấy những kết quả bình chọn tốt cho tổ bay. Điều này có nghĩa là họ sẽ được cấp trên tín nhiệm và dễ được chú ý trong thi đua, cất nhắc và lương bổng, Vân đã chỉ bảo Sâm như thế trước khi những hành khách đầu tiên đặt chân lên máy bay.

Qua không phận khu vực quần đảo Hoàng Sa, là lúc ánh mặt trời cuối cùng tắt ngấm. Càng về phía Bắc, mây mù càng dày đặc. Những tia chớp lóe lên khắp nơi, như trong một ngày bắn pháo hoa mừng Quốc Khánh. Hướng về phía cửa sổ, Hòa thầm nghĩ về đêm đầu tháng và là đêm cuối cùng của kỳ nghỉ phép thăm nhà một tuần ở Hà Nội, khi anh đi chơi cùng Huy – bạn thân từ thời cùng học Chu Văn An. Giữa dòng xe ồn ào chạy ngang đường Hùng Vương bên hông lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huy ôm Hòa rất chặt trong im lặng. Mỗi tiếng pháo hoa nổ làm Huy hơi giật mình và nép chặt hơn vào lưng Hòa khiến anh hơi nhột ở vùng lườn bụng.

„Anh Hòa ơi, anh đi thu lại phiếu bình chọn nha! Em gom rác.“ - Giọng Huế pha Sài Gòn ngọt ngào của Lam làm Hòa giật mình quay lại. Hòa mỉm cười và khẽ gật đầu đủ để cô nhận biết. Lam cúi người sắp xếp lại các ngăn đựng đồ ăn phía dưới cùng và chuẩn bị túi đi lượm rác. Xương sống cô bỗng nhoi nhói. Di chứng của những lằn roi trên sống lưng sau một buổi chiều đi lượm vỏ lon sót lại của khách du lịch bên trong thành cổ, mà vẫn chỉ đủ lo cho cả nhà một bữa cơm nhạt và thiếu cút rượu chát cho riêng ba của cô.

Khi chỉ còn cách sân bay quốc tế Hồng Kông chừng 20 phút bay, cơ trưởng Học gọi Vân vào buồng lái. Với vẻ bình tĩnh của một phi công dày dạn kinh nghiệm, ông thông báo rằng máy bay nhiều khả năng gặp trục trặc về động cơ và rất có thể phải hạ cánh khẩn cấp ở đường băng phụ gần nhất của sân bay. Vân hơi tái mặt khi nhận nhiệm vụ trấn an và chuẩn bị tâm lý và cách ứng xử cho hành khách. Chị trở lui trong khi nhịp tim đập thình thịch theo mỗi bước chân.

„Phải bình tâm lại!“ Vân tự nhủ. Trong đầu chị hiện lên hình ảnh cô con gái 5 tuổi đang cười tươi vẫy tay chào, nắng chói rực rỡ tuôn ra từ một lỗ hở duy nhất trên nền bầu trời đầy mây. Như được tiếp sức, chị làm dấu hiệu họp tổ ở đầu khoang. Sâm đến cuối cùng, với tay kéo tấm ri-đô màu xanh da trời điểm xuyết những đường vân tím ngăn cách với khoang hành khách.

Cố giữ bình tĩnh, Vân thuật lại tình huống trong giọng nói vừa đủ nghe nhưng nghiêm trang. Sâm run rẩy, mặt trở nên tái mét, đứng tựa vào thành khoang, thở dốc. Hòa trấn an Sâm bằng cách dùng cả hai tay lay mạnh vai chàng trai trẻ lần đầu tác nghiệp, dù trong lòng anh cũng rối bời không kém. Lam cúi đầu, tay trái chống lưng, tay phải vuốt trán. Mồ hôi từ đâu lan ra tràn khắp cái trán hơi dô bướng bỉnh của cô. Vân vội vàng rút khăn giấy lau trán cho Lam. Chị động viên cả tổ tiếp viên bằng giọng rắn rỏi: „Chúng ta phải cứng cỏi lên. Nhiệm vụ là trấn an và hướng dẫn hành khách. Mười lăm giây nữa bắt đầu. Hít sâu vào một cái rồi thở ra từ từ. Nào!“

Sâm không phải xuống vị trí cuối khoang mà được giao nhiệm vụ ở lại cạnh buồng lái để cùng Vân chờ đón những chỉ thị của cơ trưởng cho tình huống mới nếu có. Kỳ thực, Vân nghĩ rằng Sâm cần có thêm thời gian để tự lấy lại bình tĩnh, hơn là để vẻ bối rối của Sâm làm tăng thêm nỗi lo lắng cho hành khách. Hòa đi xuống giữa khoang, còn Lam ở lại hàng ghế số một. Vân cầm lấy dây nói và bắt đầu hướng dẫn, trong khi Hòa và Lam làm động tác kèm theo. Trong khoang có sự xáo trộn nhẹ. Vài tiếng kêu la của hành khách được trấn an bởi giọng nói dịu dàng nhưng dứt khoát của Vân: „Xin quý khách bình tĩnh. Đây là trường hợp bất khả kháng. Xin quý khách làm theo những hướng dẫn của chúng tôi để máy bay tiếp đất an toàn!“

Ít phút sau đó, nhận được tín hiệu thông báo của cơ trưởng, toàn bộ hành khách và tiếp viên đều ngồi ngay ngắn trong ghế ở tư thế cài dây an toàn, hai chân khép lại với đầu gối chạm nhau, gập người xuống trước, hai tay ôm phần đầu phía sau, đầu úp hướng bụng. Tiếng va chạm chát chúa của bánh xe vào đường băng và máy bay chao đảo nhẹ rồi rung mạnh. Tiếng còi xe cứu hỏa từ sân bay vọng đến mỗi lúc một gần.

Chiếc máy bay lăn thêm một quãng rồi từ từ dừng lại. Cả máy bay thở phào trong tiếng vỗ tay của vài người hoàn hồn nhanh nhất. Những người còn lại người thì tay đưa lên ngực vùng có trái tim, hay đưa tay vỗ vỗ trán, người thì chắp tay miệng lẩm nhẩm cảm ơn Trời Phật phù hộ thoát chết.

Sâm ngồi bất động, mắt còn nhắm chặt, hai tay ôm ghì lấy thành ghế của hàng số một. Lam ngồi yên và giữ lưng thẳng đứng trong một chiếc ghế cùng hàng bên dãy đối diện, khóc tấm tức, nước mắt cùng mồ hôi từ trán tràn xuống má như không có gì dứt được. Vân ngồi ở ghế gấp dành cho tiếp viên, mắt mở to như muốn nhìn bao quát toàn bộ khoang hành khách xem có gì xáo trộn, nhưng chị không thể nhìn thấy gương mặt ai cả, tất cả bao trùm một màu trắng pha xám như máy bay vừa đi vào vùng mây dày đặc. Ở giữa khoang, Hòa đứng bật dậy khỏi ghế, nhoài người nhìn qua khung cửa của lối thoát hiểm, nơi ánh sáng lấp lóa bảy sắc cầu vồng dần dần nhòa đi trong cơn xúc động của chính anh. Những hạt mưa trĩu nặng lộp độp va vào thân máy bay, tiếng sấm ì ùng hòa lẫn âm thanh động cơ còn âm ỉ.

*

Khu gọi điện thoại quốc tế bằng thẻ hoặc tiền xu ở sân bay quốc tế Hồng Kông giống như một góc trời thu nhỏ. Trên nền xanh nhạt, mỗi trụ đặt máy điện thoại được cách điệu thành một đám mây trắng. Bốn trong số chúng đang chở những lời tâm tình theo gió về những vùng đất khác nhau ở Việt Nam.

Về Hải Phòng: „Mẹ ơi, con sẽ không làm tiếp viên nữa đâu. Có tốn tiền chạy vạy của mẹ cũng thế thôi mẹ ạ. Cái nhà ở phía sau sân vận động ấy, con sẽ khôi phục lại xưởng sản xuất kem.“ Đây là quyết định riêng đầu tiên trong đời của Sâm.
Về Hà Nội: „Huy ơi, tớ phải nói với Huy điều này. Tớ đã muốn nói với Huy từ lâu lắm rồi. Tớ yêu Huy.“ Đây là lời thân thương đầu tiên Hòa dám thổ lộ với người bạn thân, đáp lại những cái ôm không lời vào ngày Quốc Khánh.
Về Huế: „Lam dô nè dì Tư. Ba con có mạnh không dì? Dạ. Dì nhắn giùm cho ba con. Con sẽ về thăm tuần tới.“ Đây là lời nhắn đầu tiên về cho gia đình của Lam thông qua dì Tư đầu xóm, kể từ năm năm trước, khi cô bỏ nhà ra đi.
Về Sài Gòn: „Ti à, cuối tuần má về sẽ đưa con ra biển nha. Con ở nhà với ngoại ngoan nha. Má hôn con!“ Đây là lần đầu tiên Vân nói rõ với con gái lúc nào hai mẹ con sẽ ra biển chơi với sóng, sau triền miên hứa hẹn không xác định thời gian.

Những đám mây trôi chầm chậm, thật chậm. Có lúc tưởng như đứng lại. Trên mặt đất.

Truyện ngắn đầu tay của marcus (c) Tháng Chín-Mười 2009.

(Cảm ơn chị Dạ Thảo Phương đã góp ý cho bản thảo lần đầu. Hy vọng được chị và mọi người góp ý tiếp)

Cô đơn (II)

"Em gặp anh kia uống cà phê anh nhé?"
"Đừng"
"Em gặp anh kia đi xem phim anh nhé?"
"Ừ"
Kiểu gì cũng chán

Thực ra em muốn gì?
Muốn anh nói không
Muốn anh nói có
Muốn anh không nói gì?

Từ bao giờ
Chúng ta không còn nói với nhau
Những lời bay bướm

Từ bao giờ
Chúng ta không còn nói với nhau
Những lời giận dữ

Chỉ còn lại
Sự im lặng
Gào lên giữa hư vô



Linh tinh ngày 17.9.9

1. Xe đạp khung tre, và ô tô làm từ tre nứa. Vật gì sẽ được thay thế bằng tre nữa cho hợp với môi trường? Dildo tre? Khậc khậc.

2. Tôi đang tự chữa nghiện Facebook. Thật ra FB cũng có cái hay là chia sẻ được nhanh chóng điều này kia với người khác. Tuy nhiên nó có thể làm bạn phải chia sẻ cuộc sống, khi một phần càng ngày càng lớn thời gian trong ngày của bạn diễn ra trên cái cộng đồng ấy. Cuộc sống ngày thường của bạn do đó dần bị thiếu hụt. Tôi đang thiếu thời gian nghiêm trọng.

3. Tháng 10 sinh nhật nhiều người quá. Phòng trường hợp quên mất ai đó, xin chúc mừng tất cả mọi người đã được sinh ra trong cái tháng nhiều đổi thay này.

4. Được cơ quan tặng thẻ mua sách nhân sinh nhật, nên đã ra tiệm sách khuân về Atemschaukel của Herta Müller. Đọc thử 15 trang đầu tiên, công nhận văn của bà ấy thật đặc biệt. Văn mà như thơ.

5. Từ giờ cho đến Noel cuối tuần nào cũng có tụ tập. Hic hic. Dự định là sẽ làm việc cả vào cuối tuần của mình có lẽ rất dễ bị phá sản. Nhưng phải quyết tâm thôi. Cố lên nào!

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2009

Herta Müller - Về đóng gói va li

Tất cả, những gì tôi có, tôi mang theo mình.

Hay là: Tất cả những thứ của tôi, tôi mang cùng mình.

Mang theo mình tất cả, những gì tôi có. Chúng không phải là thứ của tôi. Chúng hoặc bị dùng trái mục đích hoặc là của người nào khác. Chiếc va li làm từ da lợn là một cái hộp nhỏ đựng máy quay đĩa hát. Chiếc áo măng tô dã chiến của ba. Chiếc áo măng tô kiểu thành thị với viền cổ bằng nhung của ông nội. Chiếc quần thụng của chú Edwin. Miếng bọc bắp chân bằng da của người hàng xóm, ông Carp. Đôi găng tay bông màu xanh lá cây của cô-Fini. Chỉ có chiếc khăn lụa màu vang đỏ và một cái túi nhỏ đựng đồ lặt vặt là thứ của tôi, quà tặng mùa Giáng Sinh năm ngoái.

Khi đó còn đang là chiến tranh vào tháng Một 1945. Trong sợ hãi, rằng tôi phải đi đến chỗ người Nga giữa mùa Đông ai biết nơi đâu, mỗi người đều muốn cho tôi một cái gì đó có thể tiện ích, nếu như chẳng giúp được gì. Bởi chẳng có gì trên thế giới này giúp được cái gì. Vì tôi chắc chắn nằm trong danh sách của người Nga, mỗi người đều cho tôi cái gì và qua đó tự ngẫm về phần mình. Và tôi nhận chúng và nghĩ với tuổi mười bảy của mình, rằng việc ra đi đến đúng thời điểm. Không nhất thiết phải là danh sách của người Nga, nhưng nếu điều đó không kinh khủng lắm, thì thậm chí còn tốt cho tôi nữa. Tôi muốn biến khỏi cái mũ móng tay của thị trấn, nơi tất cả các hòn đá đều có mắt. Thay vì sợ hãi tôi mang sự nôn nóng ngấm ngầm.

(trích Atemschaukel (Xích đu hơi thở), 2009, Nhà xuất bản Hanser, trang 7)

Marcus dịch (c) tặng Nguyễn Vĩnh Nguyên

Chú thích: Tôi cố tình không chuyển cú pháp thành thuần Việt vì đây là phong cách trong nguyên bản, không kể cách chơi chữ rất khó dịch thành thuần Việt.

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009

Herta Müller: „Tôi hiện hoàn toàn bình thản“

Lời chú thích: Bài phỏng vấn này mang tên "Ich bin jetzt ganz stoisch" của báo Süddeutsche Zeitung, ngày 9.10.2009. Đây là một trong số những phỏng vấn hiếm hoi bà Herta Müller đồng ý thực hiện sau khi được tin về giải thưởng Nobel Văn học 2009. Marcus dịch bài này để tặng Nguyễn Vĩnh Nguyên nhân ngày sinh nhật của bạn ấy.


Bà có ngạc nhiên về giải thưởng không?

Herta Müller (HM): Vâng, rất ngạc nhiên. Tôi luôn nghĩ người ta phải đợi cả đời. Tôi đã loại trừ khả năng rằng mình được chọn lựa [sớm] như thế này. Nhưng mà không phải tôi đã được chọn, mà là những cuốn sách.

Trong CD truyện kể mới phát hành gần đây về thời thơ ấu của bà ở Banat (Rumani) có một từ liên tục vang lên: Bị đánh mất.

HM: Vâng, tôi thường cảm thấy như thế khi còn là một đứa trẻ, đêm đêm hy vọng rằng ngày mai không phải ra đồng. Và tôi gần như không biết tôi ra sao. Ban ngày khi cùng đàn bò ngoài thung lũng tôi luôn nghĩ rằng mình sẽ bị xé xác đến nơi. Cả phong cảnh nữa, tôi luôn có cảm tưởng rằng nó quật ngã người ta. Điều này liên quan đến những cánh đồng hợp tác xã rộng lớn không bờ, nơi người ta ở cả ngày ngoài đó. Nhiều ngày liền người ta có thể cứ bẻ bắp hay đốn ngô liên tục mãi. Tôi luôn không thể hiểu nổi, cho dù tôi không biết điều gì khác, tại sao người ta lại hiến dâng một cách vô điều kiện trong cái phong cảnh ấy. Cũng đúng thôi, họ có thể làm gì khác đâu. Mẹ tôi luôn làm trên đồng. Tôi tin là mẹ tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều này. Đêm nào tôi cũng cầu nguyện trời mưa. Để người ta đỡ phải ra khỏi nhà.

Hội đồng xét giải Nobel đã tôn vinh bà như một nhà văn „vẽ phong cảnh của sự tha hương“. Bà có cảm thấy mình được hiểu đúng không?

HM: Vâng, tôi tin rằng không có chốn nào đương nhiên cho ta cảm giác thuộc về nơi đó cả. Đồng hương đã loại trừ tôi, ngay sau cuốn Niederungen (Đất trũng) vào đầu những năm 80, sau đó là cả quá trình rắc rối với mật vụ và độc tài. Rồi tôi đến Đức, nơi tất nhiên không phải là một quê hương. Tôi sống ở đây, nhưng nơi đây không phải là nơi tôi có thể cảm thấy là nhà, bởi tôi không xuất thân từ đây, tôi không thuộc về nơi đây. Semprun đã nói rằng: „Không phải ngôn ngữ mà điều được nói ra mới là quê hương“. Và như thế, với những gì được nói về tôi ở nơi lẽ ra có thể gọi là quê hương, cho thấy rõ ràng nhất rằng nơi đó không phải. Và điều này càng đau xót hơn khi người ta lẽ ra thuộc về nơi đó nhưng lại không thể.

Bà muốn nói rằng mình đã hoàn toàn mất quê hương rồi?

HM: Tôi không biết. Điều này cũng chưa từng bao giờ làm tôi phải suy nghĩ cả. Nó tự nhiên là như thế. Tất nhiên tôi đã vui sướng từng ngày sau khi rời khỏi Rumani. Bởi tôi biết rằng, khi đến Đức, là tôi đã đạt nguyện vọng rồi. Tôi thoát ra khỏi cái tình trạng đó, cái chế độ độc tài đó. Sau này tôi đã không màng đến chuyện này nhiều nữa, không suy nghĩ mang nặng tình cảm, tôi biết rằng, tại sao tôi lại ra đi. Tất cả đều có lý do của nó và về sau này tôi cũng không cho rằng, ngay cả diễn giải với riêng tôi thôi, dường như đó là một bất hạnh. Tôi ra đi được là một may mắn. Tôi đã ra đi quá muộn, bởi vì tôi đã bị bầm dập quá lâu. Điều đó mới là vấn đề, chứ không phải chuyện tôi ra đi. Ơn trời là còn có một nước khác, nơi người ta có thể đến và tôi có thể hòa được cùng ngôn ngữ. May mắn này không phải người ra đi nào cũng có được.

Cuốn sách mới nhất của bà [Atemschaukel - Xích đu hơi thở] cũng kể về một câu chuyện già hơn bà và bắt đầu trước khi bà sinh ra. Nó cũng nói về người bạn của bà, ông Oskar Pastior.

HM: Giá như Oskar bây giờ biết được điều này. Trong bất cứ chuyện gì tôi làm lúc này, mỗi khi tôi cùng cuốn sách đến đâu đó, là tôi lại có ý nghĩ: giá như ông ấy còn được sống lúc này.

Bà có nghĩ rằng giải Nobel có thể thay đổi vị trí của bà ở Rumani hay liên quan đến mức độ ảnh hưởng của bà ở Rumani hay không?

HM: Tôi không chắc, nhưng tôi không được ưa lắm ở Rumani, may ra những cuốn sách thôi, vì tôi vẫn nói một số điều người ta phải nói ra về Rumani.

Ví dụ như?

HM: Rằng không hề có dân chủ và rằng tham nhũng tràn lan, rằng lực lượng mật vụ mới chỉ kế thừa lực lượng cũ hay chỉ có một phần nhỏ là mới, vì họ tự nhận là có 40% nhân viên cũ chuyển sang, rằng tham nhũng ở khắp nơi, bởi bộ máy chính quyền hồi xưa giờ đã chia nhau đất và bây giờ tất cả trở thành của tư. Họ quen nhau và phục vụ lẫn nhau. Thông qua đó tất cả lại trở nên bền vững đến mức tôi không thể tưởng tượng làm sao điều này có thể thay đổi được.

Bây giờ nó đã ổn định lại rồi và thành một tình trạng bền chặt. Người Rumani không thích nghe điều này. Và rằng đó chẳng phải cuộc cách mạng gì cả, người ta cũng không muốn nghe ở Rumani. Rồi còn luôn có những nhắn gửi là tôi giờ chẳng còn hiểu gì thế sự nữa và tôi nên câm miệng thì hơn. Người ta không nên làm xấu đi hình ảnh đất nước và tôi dường như đang làm chính điều đó. Ở đây tại Đức những người hiểu biết, những trí thức có một định nghĩa khác về quê hương so với tại Rumani.

Ở đây [tại Đức] quê hương cũng luôn là thứ mà người ta không thể chịu đựng được và là thứ không buông tha người ta. Nhưng ở Rumani người ta chỉ muốn một thứ thôi. Người Đức thiểu số thì luôn thế, họ muốn văn học quê hương, ngay cả khi họ sống ở đây [tại Đức]. Càng sống lâu ở đây, cái cơ chế cũ lại càng quan trọng, cái đã trải qua lại càng được tán dương. Tất cả những gì đã diễn ra đều đẹp cả. Từ một khoảng cách thì tất cả mọi thứ bị tô màu hồng.

Bà có một thần tượng văn học nào không?

HM: Không. Tôi đánh giá cao nhiều tác giả. Những tác giả tôi quan tâm tất nhiên luôn là những người đã và đang không thoát khỏi đề tài của họ, những người không tự chọn cho mình một đề tài. Tôi cũng ở trong một tình huống tương tự. Tất nhiên xuất phát điểm sẽ khác nhau nếu người ta suy tư rằng mình có thể viết về cái gì bây giờ hay người ta mang theo những đau thương và chúng là lý do duy nhất tại sao người ta lại viết. Nếu người ta suy tư, nếu những niềm đau này không hề có, tôi đã chẳng phải làm gì, tôi đã chẳng phải viết. Tất nhiên tôi tôn trọng những tác giả như thế, nhà văn lớn Alexandar Tisma là một ví dụ, hay Thomas Bernhard, người với thẩm mỹ không khoan nhượng đã luôn là một tấm gương cho tôi, cho dù tôi viết hoàn toàn khác, câu không dài.

Bà có những dự án văn học mới nào chưa?

HM: Điều này hiện tôi còn chưa biết. Tôi vẫn chưa thực sự cảm nhận được điều gì đang xảy ra. Tôi như bị tắt đèn. Dường như có một chiếc la bàn trong đầu, một mũi kim đang chặn lại cái gì đó. Tôi dù biết, nhưng nó im lặng. Theo cảm nhận thì nó chưa nói gì. Nếu tình trạng này tiếp tục cũng có thể làm choáng váng người ta. Tôi không muốn bị choáng. Tôi hiện hoàn toàn bình thản, có phải là tôi đâu, mà là những cuốn sách. Người ta phải sắp xếp lại mọi thứ. Nhưng tôi tin rằng, sẽ ổn thôi.


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2009

My next thirty years

I think I'll take a moment, celebrate my age
The ending of an era and the turning of a page
Now it's time to focus in on where I go from here
Lord have mercy on my next thirty years

Hey my next thirty years I'm gonna have some fun
Try to forget about all the crazy things I've done
Maybe now I've conquered all my adolescent fears
And I'll do it better in my next thirty years

My next thirty years I'm gonna settle all the scores
Cry a little less, laugh a little more
Find a world of happiness without the hate and fear
Figure out just what I'm doing here
In my next thirty years

Oh my next thirty years, I'm gonna watch my weight
Eat a few more salads and not stay up so late
Drink a little lemonade and not so many beers
Maybe I'll remember my next thirty years

My next thirty years will be the best years of my life
Raise a little family and hang out with my wife
Spend precious moments with the ones that I hold dear
Make up for lost time here, in my next thirty years
In my next thirty years


(phil vassar)

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2009

Hội chứng Herta Müller

Hôm nay tôi bị hội chứng về bà này, đọc những thông tin về bà, bài phỏng vấn bà trả lời báo Süddeutsche Zeitung sau khi được tin giải thưởng Nobel văn học, và dịch một đoạn văn từ tiểu thuyết Atemschaukel (Rung rinh hơi thở) mới nhất của bà. Phải nói là kinh khủng. Văn bà là thứ khó dịch nhất trước nay đối với tôi bởi sự chơi chữ tinh quái cũng như kiểu lạm dụng từ ở ngôi thứ ba trung tính (es, das, man) - của bà.

Lang thang qua nhà chị So, thấy bác Đông A dịch bài thơ sau (được cho là của Herta Müller, nhưng tôi không rõ), thấy có vài chỗ bác dịch còn lấn cấn, nên dù khá mệt rồi, tôi vẫn cố gắng dịch lại bài này tặng chị So, có thể không hay bằng, nhưng hy vọng sát nghĩa hơn:

Kalte Bügeleisen

Ein kleiner grauer Mann geht am Parkrand. Oben in den Bäumen.
Der kleine graue Mann hat zwei harte Schuhe wie zwei kalte Bügeleisen an.
Der kleine graue Mann führt einen faulen Rock, einen leeren Hund und zwei Flaschen Milch spazieren.
Der kleine graue Mann bleibt stehen zwischen den hohen Bäumen. Er horcht.
Der Wind treibt seine Schädeldecke auf.
Der Wind treibt seine Schädeldecke zu.
Der Wind treibt seine Schädeldecke auf und zu.

- Herta Müller -

Bàn là lạnh

Một người đàn ông đầu bạc thấp bé đi ven công viên. Trên cao trong những tán cây.
Người đàn ông đầu bạc thấp bé mang đôi giày cứng như hai chiếc bàn là lạnh.
Người đàn ông đầu bạc thấp bé dắt một áo khoác nhàu, một con chó rỗng và hai chai sữa.
Người đàn ông đầu bạc thấp bé đứng lại giữa những cây cao. Ông nghe.
Gió xua hộp sọ ông mở ra.
Gió xua hộp sọ ông đóng vào.
Gió xua hộp sọ ông mở ra đóng vào.

marcus dịch (c)
Chú thích (15.10.09): trong bản dịch đầu tiên ở ba câu cuối tôi dùng chữ mái đầu cho Schädeldecke. Nay xin sửa lại thành hộp sọ theo gợi ý của Nguyễn Danh Quý.

Đối chiếu bản dịch của bác Đông A tại đây

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2009

Herta Müller - Người tha hương


Herta Müller - nhà văn người Đức, sinh tại Rumani năm 1953, vừa nhận được giải thưởng Nobel Văn học năm 2009, vì bà:

"nhờ tính cô đọng của thơ và tính thẳng thắn của văn đã vẽ nên phong cảnh của sự tha hương".

Trong nguyên bản:

"who, with the concentration of poetry and the frankness of prose, depicts the landscape of the dispossessed",

trong tiếng Đức:

„sie habe mittels Verdichtung der Poesie und Sachlichkeit der Prosa Landschaften der Heimatlosigkeit gezeichnet“,

Vnexpress thì dịch là:

"người, với sự tập trung, cô đọng của thơ ca và sự thẳng thắn của văn xuôi, đã miêu tả phong cảnh của mảnh đất bị tước quyền sở hữu".

Nhật báo Süddeutsche Zeitung gọi bà là "người thực tế đầy chất thơ" trong khi bà hay được coi là "nhà thơ mang chất chính trị". Tuần báo Spiegel chạy tít bà nhận được giải Nobel cho "vở chính kịch cuộc đời mình". Bà được tôn vinh vì cách sử dụng ngôn ngữ đầy sáng tạo và mang chất riêng, "người ta chỉ cần đọc nửa trang là biết đấy có phải là văn của Herta Müller hay không" - Peter Englund, người tuyên bố giải thưởng của Viện Hàn lâm Hoàng gia Thụy Điển nói.

Đề tài trong văn của Herta Müller là sự tha hương, đói, bị xa lánh, bị rượt đuổi trong những bức tranh gây ngạt thở và nhờ đó lại trở nên sống động. Những trải nghiệm của bà và gia đình dưới thời độc tài Ceausescu ở Rumani được bà dùng làm tư liệu cho các tác phẩm văn chương. Tiểu thuyết mới nhất Atemschaukel (2009, Rung rinh hơi thở - marcus tạm dịch) kể về một đề tài nhạy cảm: những người Rumani gốc Đức - như gia đình bà - bị đày ải sang Liên Xô sau chiến tranh thế giới thứ Hai. Cuốn sách nằm trong danh sách đề cử giải thưởng văn chương Đức năm nay sẽ được trao vào tuần tới tại hội chợ sách Frankfurt.

Ngay từ cuốn tản văn đầu tiên Niederungen (1984, Đất trũng - marcus tạm dịch), Herta Müller tả về cuộc sống nơi nông thôn của người thiểu số Đức ở Rumani, một cuộc sống không lấy gì làm lý tưởng dưới con mắt của một đứa trẻ. Bà chịu sự kiểm soát gắt gao của giới cầm quyền Rumani thời kỳ đó khi bị mật vụ theo dõi. Mãi tới năm 1987, bà cùng chồng được phép tới Tây Berlin và ở lại cho đến nay.

Reisende auf einem Bein (1989, Người du hành bằng một chân - marcus tạm dịch) là tập văn xuôi đầu tiên bà viết về sự lạ lẫm ở ngay quê hương mới Tây Berlin. Cuộc sống trong một chế độ toàn trị là đề tài trong cuốn tiểu thuyết Der Fuchs war damals schon der Jäger (1992, Con cáo hồi xưa đã là kẻ đi săn rồi - marcus tạm dịch). Cuốn Herztier (1994, Thú tâm - marcus tạm dịch) kể về cuộc sống của những người đối lập tại Rumani.

Vào những năm 90, Herta Müller là một trong số các nhà văn đã đi vào các trại tị nạn tại Đức để đọc sách của mình nhằm phản kháng lại tình hình thù ghét người nước ngoài. "Tôi không thể lẩn tránh và cũng không thể tự dối lòng, mà phải đối mặt với những gì mình nhìn thấy" - một phát biểu phù hợp với cách hành văn sắc sảo của bà.

Herta Müller hoàn toàn bất ngờ khi được tin giải thưởng: "Tôi vẫn chưa thể tin được" - bà cho biết. Nhà văn Đức Günter Grass - người đoạt giải Nobel năm 1999 chúc mừng bà, tuy rằng ông muốn nhà văn người Israel Amos Oz - nhân vật được dự đoán nhiều nhất về khả năng giành giải năm nay - được tôn vinh hơn.

Giải thưởng được trao cho Herta Müller trong bối cảnh thế giới chuẩn bị kỷ niệm 2o năm ngày bức tường Berlin sụp đổ đánh dấu sự kết thúc của bức màn sắt chia rẽ Đông Tây.

Herta Müller là người phụ nữ thứ 12 và là người viết tiếng Đức thứ 12 nhận giải thưởng danh giá này. Người viết tiếng Đức gần nhất được tôn vinh với giải Nobel là nhà văn nữ người Áo Elfriede Elinek năm 2004. Năm ngoái, giải thưởng Nobel Văn học cũng gây bất ngờ khi trao giải cho nhà văn Pháp Jean-Marie Gustave Le Clézio.

Giải Nobel Văn học trị giá 10 triệu Kronen Thụy Điển (trên 25 tỷ đồng) sẽ được trao vào ngày 10.12 tại Stockholm.

*********

Không biết bài này có báo tiếng Việt nào chịu đăng không. Chẳng biết gửi đi đâu khi thấy vài dòng tin sơ sài như trên Tuổi Trẻ, Vietnamnet, và Vnexpress thế này.

Update: Bài đã đăng trên trang Online của Sài Gòn Tiếp Thị, có sửa 1 từ "đày ải" thành "đưa" và cắt đoạn bức tường Berlin :)

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2009

Cô đơn (I)

Mưa dầm
Dề cả một ngày
Từ hôm qua
đến hôm nay
thấm sang cả ngày kia mãi.

Tôi lặng
Lẽ cả một đời
Từ kiếp trước
qua kiếp này
len sang cả đời sẽ tới.

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2009

Mùa thu này

... là của Slumdog Mafia sequel: The End of Destinies.

Chú Ba Sài Gòn, người tôi chỉ quen sau khi đã xem Slumdog Mafia của chú ấy, luôn tự nhận mình không phải là tín đồ của điện ảnh. Điều này chắc cũng đúng vì chú Ba không xem nhiều phim, không bàn nhiều về phim. Đích đến của chú Ba cũng không phải môi trường làm phim.

Thế nhưng, chú Ba có tài thiên bẩm làm phim. Cái này là nhận xét của tôi. Điều này rất khác với Phanxine - người mà chú Ba lấy làm thần tượng. Bởi vì Phanxine từ đam mê xem phim mà muốn làm phim.

Ngoài năng khiếu biết kể chuyện bằng hình ảnh, chú Ba còn biết làm sao cho câu chuyện được hấp dẫn.

Chú Ba còn biết thuyết phục người khác tham gia vào phim của chú ấy. Đây là một tố chất rất quan trọng của người làm phim bởi vì phim là một sản phẩm tập thể.

Và trên hết, chú Ba biết cách thu hút sự chú ý của mọi người cho bộ phim của mình.

Tôi nghĩ những điểm vừa kể nên là kỹ năng cần có của nhà làm phim trong hoàn cảnh không có kinh phí và tự thân vận động. Nó cũng cần là kỹ năng của mọi nhà làm phim nói chung.



Hôm nay chú Ba vừa ra trailer được đặt bằng cái tên rất hùng dũng là Ultimate Trailer của bộ phim dự định sẽ được trình chiếu vào đầu tháng 11 năm nay, tại trường học của chú Ba và trên mạng Internet.

Slumdog Mafia sẽ có kết thúc vào mùa thu này.

Nhưng tôi hy vọng đó không phải là bộ phim cuối cùng của Phúc Đoàn - Chú Ba Sài Gòn.

Vì tôi muốn một ngày nào đó được xem phim của chú Ba trên màn ảnh rộng.

Slumdog Mafia: The End of Destinies (Ultimate Trailer) from Phuc Doan on Vimeo.

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2009

Những người lạ đẹp trai

BEAUTIFUL STRANGERS

“Do you want to come to the party, darling?”
you give me your hand

I find my heart shaped necklace
I wear my red flowed skirt
I walk towards the bonfire

Standing beside you
I drink a half glass of wine
You are so charming
You are so chatty
Everybody loves you
You are everyone’s sweetheart
Let me be one of your listeners
Let me be member of your audience
I am shivering
I have another half glass of wine

How are you nice to see you where are you from it’s a nice party isn’t
I like your dress thank you I like your earrings too thank you are welcome

I feel bored
I start to dance
Dance on my own
I hear strange music
I never understand the lyrics
A man comes and dances with me
Then another man, then a third man
Then a fourth
In the end they are 8 handsome men
If I still remember how to count

Sugar melts by the fire
Cheese melts in the bread
Your lips melt on some cheeks
I am dancing with beautiful strangers
Without looking at their lonely eyes

XIAOLU GUO August 12, 2003



NHỮNG NGƯỜI LẠ ĐẸP TRAI

"Em yêu có muốn tới dự tiệc không?"
Anh chìa tay ra

Tôi kiếm chiếc vòng cổ hình trái tim
Tôi mặc chiếc váy ngắn tuôn màu đỏ
Tôi rảo bước tới lễ hội pháo hoa

Đứng cạnh anh
Tôi uống nửa ly rượu vang
Anh thật duyên dáng
Anh thật lắm lời
Ai cũng yêu anh
Anh là người tình của tất cả
Hãy để tôi là một trong số những người đang nghe anh
Hãy để tôi là thành viên đám thính giả của anh
Tôi run rẩy
Tôi uống một nửa ly rượu vang nữa

Bạn khỏe không gặp bạn vui quá bạn đến từ đâu bữa tiệc vui nhỉ đúng không
Tôi thích chiếc váy của cô cám ơn tôi cũng thích đôi bông tai của cô cám ơn không có chi

Tôi thấy chán
Tôi bắt đầu nhảy
Nhảy một mình
Tôi nghe tiếng nhạc lạ lẫm
Tôi chẳng bao giờ hiểu lời
Một người đàn ông tiến tới và nhảy cùng tôi
Rồi một người nữa, rồi người thứ ba
Rồi người thứ tư
Tổng cộng khoảng 8 người đàn ông đẹp trai
Nếu tôi vẫn nhớ cách đếm

Đường tan trong lửa
Phó mát tan trong bánh mì
Môi anh tan trong cặp má nào đó
Tôi đang nhảy với những người lạ đẹp trai
Không nhìn vào mắt buồn của họ

Quách Tiểu Lộ 12 tháng Tám, 2003


Dịch bởi marcus (c)

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2009

Petition calling for Polanski's release

Pedro Almodovar, Walter Salles, Bertrand Tavernier and Fatih Akin are among the film-makers that have joined Harvey Weinstein in signing the petition calling for the release of Roman Polanski.

The petition has been launched by the Cinematheque Francaise, the Cannes Film Festival, SACD, the writer’s guild, ARP, the authors, directors and producers association, and Groupe 25 Images, which represents TV directors.

The petition, which is also supported by Wes Anderson and actress Tilda Swinton, states::

“We have learned the astonishing news of Roman Polanski’s arrest by the Swiss police on September 26th, upon arrival in Zurich (Switzerland) while on his way to a film festival where he was due to receive an award for his career in filmmaking.

His arrest follows an American arrest warrant dating from 1978 against the filmmaker, in a case of morals.

Film-makers in France, in Europe, in the United States and around the world are dismayed by this decision. It seems inadmissible to them that an international cultural event, paying homage to one of the greatest contemporary film-makers, is used by the police to apprehend him.

By their extraterritorial nature, film festivals the world over have always permitted works to be shown and for film-makers to present them freely and safely, even when certain States opposed this.

The arrest of Roman Polanski in a neutral country, where he assumed he could travel without hindrance, undermines this tradition: it opens the way for actions of which no-one can know the effects.

Roman Polanski is a French citizen, a renown and international artist now facing extradition. This extradition, if it takes place, will be heavy in consequences and will take away his freedom.

Film-makers, actors, producers and technicians - everyone involved in international filmmaking - want him to know that he has their support and friendship.

On September 16th, 2009, Mr. Charles Rivkin, the US Ambassador to France, received French artists and intellectuals at the embassy. He presented to them the new Minister Counselor for Public Affairs at the embassy, Ms Judith Baroody. In perfect French she lauded the Franco-American friendship and recommended the development of cultural relations between our two countries.

If only in the name of this friendship between our two countries, we demand the immediate release of Roman Polanski.”


Source: Screendaily.