Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2009

Điện ảnh Việt Nam: Chơi vơi nơi đáy giếng


LHP Việt Nam lần thứ 16 sẽ diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 8.12 – 12.12 với chủ đề „Vì một nền điện ảnh Việt Nam đổi mới và hội nhập“. Tiêu chí này chỉ là sự sao chép lại của chính nó từ LHP lần thứ 15 diễn ra cách đây hai năm. Sự trùng lặp này có thể bị đánh giá là nghèo nàn về ý tưởng, nhưng ở khía cạnh khác, nó thể hiện rõ tình hình của nền điện ảnh Việt Nam thời hiện tại: sự dậm chân tại chỗ, thích hô khẩu hiệu và thiếu định hướng rõ rệt.

Em muốn làm người nổi tiếng

Năm 2009 đánh dấu nhiều sự kiện của điện ảnh Việt Nam: bộ phim đầu tiên tham dự LHP Venice một cách chính thức (Chơi vơi – Bùi Thạc Chuyên), bộ phim thể loại nhạc kịch lần đầu tiên được sản xuất (Những nụ hôn rực rỡ - Nguyễn Quang Dũng), công nghệ phim 3D đầu tiên được đưa vào sử dụng tại rạp chiếu (Megastar). Tuy nhiên, chính những cái đầu tiên đó khiến ta phải tự hỏi, điện ảnh Việt Nam đang ở đâu?

Tại sao phải đợi đến tận 2009, điện ảnh Việt Nam mới có một phim thể loại nhạc kịch? Thì ra, sự đa dạng thể loại của nền điện ảnh đã gần như bị lãng quên trong suốt quá trình tồn tại 50 năm của điện ảnh cách mạng. Suốt nhiều thập kỷ sau khi đất nước thống nhất, các bộ phim vẫn chủ yếu cùng một thể loại nói về những hậu quả và di chứng của chiến tranh, đôi khi lồng vào những câu chuyện tình yêu. Với đề tài kiểu này, đạo diễn Nguyễn Thanh Vân từng giành Bông sen vàng cá nhân hai kỳ LHP liên tiếp 13 và 14 với các phim Đời Cát (1999) và Người đàn bà mộng du (2003). Nhiều năm sau, sự ra đời của các hãng phim tư nhân đã tạo điều kiện cho sự trình làng của phim võ thuật Dòng máu anh hùng (2007), và bây giờ, bộ phim nhạc kịch đầu tiên.

Việc rạp chiếu phim có công nghệ 3D là một tin vui cho khán giả, nhưng ngẫm lại, nó hoàn toàn phục vụ cho các siêu phẩm Hollywood và không mang tính thúc đẩy phim nội địa. Vì công nghệ làm phim của Việt Nam chưa có khả năng làm ra phim 3D trong nhiều năm tới đây. Rốt cục, điện ảnh Việt Nam muốn làm người nổi tiếng với những sự đầu tiên trong hy vọng đổi mới, nhưng những tin tức đó mang một thông điệp ẩn giấu phía sau: nền điện ảnh còn đang chơi vơi nơi đáy giếng nhìn lên bầu trời thế giới.

Trái tim bé bỏng giữa rừng đen

Năm 2002, đạo diễn Phạm Nhuệ Giang mang Thung lũng hoang vắng đến LHP Berlin dự mục Forum (Diễn đàn) và tự tin kể về lịch sử hơn 40 năm của điện ảnh cách mạng Việt Nam với cột mốc bộ phim Chung một dòng sông (1959) của đạo diễn Phạm Kỳ Nam – Hồng Nghi. Nhiều khán giả am hiểu điện ảnh thế giới ngơ ngác tự hỏi rằng có thật nền điện ảnh Việt Nam đã được lâu năm như thế? Dù ngay một năm trước đó, Forum đã dành một chương trình riêng cho điện ảnh Việt Nam với Chung cư (Việt Linh), Ai xuôi vạn lý (Lê Hoàng), Mùa ổi (Đặng Nhật Minh) và một số phim khác. Trước nay trên thế giới, nói đến điện ảnh Việt Nam, người ta thường chỉ biết đến cái tên Trần Anh Hùng với giải Sư tử Vàng LHP Venice cho Xích lô (1995). Nhưng Trần Anh Hùng không đại diện được cho điện ảnh Việt Nam, tất cả các phim của ông cho đến nay vẫn chưa được chính thức lưu hành trong nước. Sự tham gia LHP quốc tế của phim Việt Nam còn mang tính phát hiện và mỗi một bộ phim được lựa chọn chiếu ở các LHP đều trở thành một hiện tượng.

Ngoại trừ các phim của đạo diễn Việt Linh được phát hành ở Pháp, hầu hết những cố gắng phát hành phim Việt Nam ra quốc tế vẫn còn mang tính nhỏ giọt và gặp thất bại. Một số thành công nhỏ nhoi là nhờ vào mạng lưới người Việt ở nước ngoài, đặc biệt ở Mỹ giúp cho một số bộ phim của đạo diễn Việt Kiều được ra rạp ở dạng hẹp trong cộng đồng hay phát hành băng đĩa. Làm sao để hội nhập khi bước ra thế giới là rừng đen âm u ẩn giấu nhiều cạm bẫy và luật chơi mà nhà làm phim Việt Nam còn ngây thơ như cô bé quàng khăn đỏ với trái tim bé bỏng ngơ ngác giữa chốn rừng sâu?

Giải cứu thần chết

Khi tổng kết về LHP lần thứ 14 diễn ra tại Buôn Mê Thuột vào năm 2004, nhà bình luận Phan Xi Nê (báo Doanh nhân Sài Gòn) đã dùng câu nói của nhân vật Quỳ (Người đàn bà mộng du – Nguyễn Thanh Vân) „Có lẽ, tôi đã sống với người chết quá lâu“ để minh họa nền điện ảnh Việt Nam rệu rã cứ lay lắt sống mãi với tư duy làm phim cũ kỹ. Năm năm sau, vào 2009, điện ảnh Việt Nam cần được giải cứu khỏi thần chết vẫn còn đang ám ảnh mãi.

Bóng ma thần chết mỗi năm được hóa kiếp một lần duy nhất vào mùa phim Tết, khi vài phim ganh đua nhau một lượng khán giả quan tâm có hạn. Dù tự tin đến mấy, cho đến nay chưa có nhà phát hành phim nào dám đưa phim ra rạp chệch mùa phim này, trừ phi bắt buộc. Bẫy rồng (Lê Thanh Sơn) là phim đầu tiên hướng đến thị trường phim dịp lễ Giáng Sinh năm nay, dù sẽ phải đối đầu với không ít siêu phẩm Hollywood sẽ cùng ra mắt đợt này. Vừa ra rạp cách đây vài tuần, Chơi vơi (Bùi Thạc Chuyên) dù bị chính nhà phát hành Thiên Ngân xếp lịch chiếu không thuận lợi ở ngay sân nhà (chỉ tại rạp Nguyễn Du với hai suất chiếu sáng và trưa hàng ngày) đã tạo nên một bất ngờ nho nhỏ khi được khán giả quan tâm theo dõi và bình luận. Đây là hai ví dụ đáng khích lệ và đặt dấu ấn đầu tiên cho những cuộc giải cứu trong tương lai mà ta có quyền hy vọng là sẽ thành công.

Trong cuộc chiến có vẻ không cân sức để được sống một cách thật sự bằng chính nội lực của mình, nền điện ảnh Việt Nam cần dám đốt đi những huyền thoại bất tử của ngày hôm qua để không mãi phải tự hỏi: Bao giờ cho đến tháng Mười?

Diễn viên Bùi Bài Bình tại LHP Việt Nam 15: "Vì một nền điện ảnh Việt Nam đổi mới và hội nhập!"


(Bài đã đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị. Bài ở đây đầy đủ hơn.)

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Về "thư bạn đọc" của báo Tuổi Trẻ

Gần đây, báo Tuổi Trẻ cho đăng những "thư bạn đọc" phản ánh một số vấn đề, trong đó đáng chú ý là hai bài sau:

1. Web cho giới trẻ: có một đống rác! chỉ trích trực tiếp kenh14.vn, một kênh thông tin của lứa tuổi đang lớn (+- 14 tuổi) với những hình ảnh mát mẻ và đời tư ngôi sao (xịt hay nhấp nháy).
2. Một tạp chí dùng tiếng Việt dị dang chỉ trích gián tiếp Thế giới Văn hóa, một tạp chí thuộc hàng nhảm nhí như con chí, bàn về đời tư ngôi sao (xịt hay nhấp nháy).

Một mặt, tôi đồng tình với chuyện là có quá nhiều rác trong các tạp chí và kênh thông tin kiểu đó. Nhưng mặt khác, tôi cho rằng, nó chỉ phục vụ độc giả của nó thôi. Tuổi Trẻ tự dưng xía vô làm chi?

Thì ra câu trả lời cho 1) là việc Tuổi Trẻ chuẩn bị lập ra một chuyên trang cho lứa tuổi hoc đường 13-18, (thế các bạn trẻ cùng lứa tuổi nhưng không đi học thì chẳng lẽ không được Tuổi Trẻ để mắt đến sao?), dù hiện tại Tuổi Trẻ cũng gọi họ là Teen (hãy coi đường dẫn thứ nhất, chuyên mục đăng bài tên là Teen - Nhịp sống số). Tôi ủng hộ chuyện Tuổi Trẻ cho ra chuyên trang này vì nó cung cấp cho bạn đọc thêm lựa chọn. Nhưng đánh một kênh thông tin khác để dọn đường cho việc ra đời sản phẩm cạnh tranh hoàn toàn là một việc làm thiếu đạo đức và phản ánh tâm thế đáng nghi ngờ của một trong những cơ quan truyền thông lớn nhất nước.

Còn về 2) thì Tuổi Trẻ có vẻ như mải đọc tạp chí lá cải bên ngoài mà quên mất rằng, trên Tuổi Trẻ cũng đầy sự sính tiếng Anh khắp nơi. Đơn cử như trang mạng Tuổi Trẻ được gọi là Tuổi Trẻ online cung cấp cho bạn thông tin mới nhất qua mục Newsletter và sự năng động trên từng cây số qua mục Tuổi Trẻ Mobi. Bản quyền báo Tuổi Trẻ được gọi là Copyright, nhà thiết kế trang mạng Tuổi Trẻ được giới thiệu bằng Powered by. Còn trong bài viết mới gần đây Gặp gỡ tác giả Cô đơn trên mạng: sau tình yêu mới là sex thì ngoài từ sex được sử dụng rất tự nhiên thay cho tình dục, trong bài còn nào là email, best-seller, tabou.

Một cơ quan truyền thông mang tính tiên phong cần có những bài viết thực sự có giá trị và hướng đến tri thức cho cộng đồng. Tuổi Trẻ, trong tham vọng trở thành số một đã mất đi khá nhiều thiện cảm của tôi. Đã từ rất lâu tôi không còn được đọc những bài viết gai góc, dám đi vào sự thật với tính báo chí cao trên Tuổi Trẻ. Hiện nay, chất lượng Tuổi Trẻ đang xuống dốc một cách không phanh, trong khi nó cố gắng lan tỏa tầm ảnh hưởng với sự thành lập mới những chuyên trang. Với đà này, chẳng bao lâu nữa, Tuổi Trẻ sẽ đi về đâu? Một tập đoàn truyền thông của những Kenh14 phẩy, Thế giới Văn hóa phẩy?

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009

Ký ức thầy cô


Bài này tôi viết cùng thời điểm vào năm ngoái. Năm nay đăng lại. Vì không thể viết được như thế nữa.

Cô giáo đầu tiên của mình là cô Thìn. Bây giờ vẫn nhớ như in ngày cô dẫn vài đứa trẻ hàng xóm không chơi cùng đến nhà, dắt mình đi nhà trẻ. Hồi đó 3 tuổi, không thích đi mẫu giáo, chỉ thích ở nhà chơi vơ vẩn lẩn thẩn với cây cỏ chó mèo, với mấy đứa hàng xóm ở gần. Vì thế gào khóc ghê lắm. Cứ bám chặt vào bờ tường cổng không muốn đi. Cô Thìn vừa dỗ vừa dọa. Cuối cùng cũng phải đi theo dù nước mắt ngắn dài. Con bé hàng xóm tên Mỹ không phải đi mẫu giáo, vẫn thường là bạn chơi hàng ngày, đứng nhìn theo, cảnh tiễn đưa ra chừng cảm động lắm ý. Cô Thìn chừng hai mấy tuổi, không có chồng. Hình như cô mãi mãi không lấy chồng. Cô là người dạy mình hát và múa đầu tiên. Mình là đứa ham văn nghệ nên hát hay múa giỏi hơn cả bọn con gái cùng trường mẫu giáo. Vào trung thu một năm nào đấy, mình dẫn đầu đội múa (hình như có mặc váy hehehe) lên sân khấu của xã biểu diễn. Dân tình cứ gọi là hoan hô nhiệt liệt. Cô Thìn da ngăm đen nên khuôn mặt nét nào ra nét đấy, mắt tròn, môi mọng, mỗi tội tính tình không được dịu dàng nữ tính cho lắm nên các trai làng và bộ đội chê. Ngày 20/11 hình như mình chỉ hái hoa vườn nhà đi tặng cô thôi, chứ chẳng có quà cáp gì như thời bây giờ.

Cô giáo chủ nhiệm hồi lớp 4 là cô Từ. Nhà cô rất nghèo, không có cả xe đạp. Cô thường đi bộ đi làm với chiếc cặp sờn gáy và đôi chỗ mặt ngoài giả da đã bung lung tung. Cô rất yêu thương học trò, dù kiến thức của cô rất hạn chế (hồi đó còn nhỏ nhưng đã bắt đầu biết đánh giá kiến thức thầy cô, tư tưởng tự do dân chủ đã manh mối hehehe). Có lần làm báo tường, mấy đứa đến nhà cô, cô luộc sắn cho ăn. 20/11 năm ấy, mình cám cảnh chiếc cặp sờn của cô nên vận động cả lớp đóng tiền mua tặng cô một chiếc cặp giả da mới. Chiếc cặp mới không nhiều tiền, nhưng làm cô cảm động vô cùng. Nhưng không hiểu sao, cô vẫn dùng chiếc cặp cũ khi đi làm.

Cô giáo chủ nhiệm hồi lớp 5 là cô Thuyết. Cô còn trẻ, mới ra trường vài năm, người tròn, da ngăm đen. Cô lấy chồng là người theo đạo, làm thợ mộc và nhà chồng cô cũng ở gần nhà thờ. Vì thế khi đến nhà cô học luyện thi học sinh giỏi Văn, mình được biết đến không chỉ cuộc sống của người thợ mộc mà cả khung cảnh bên ngoài của cái nhà thờ được xây từ thế kỷ 19. Nhà thờ lúc đó là cả một thế giới rất lạ lẫm, phần nhiều gây sợ hãi đối với mình. Cho đến tận bây giờ, mình cũng chưa bao giờ dám bước chân vào nhà thờ ấy, dù suốt mấy năm học cấp II nghe chuông đổ hàng ngày. Cô Thuyết là giáo viên giỏi, ham thành tích. Còn nhớ năm ấy cả trường có hai người là bạn Phan và mình được vào đội tuyển thi học sinh giỏi Văn thành phố, sau khi đã giành giải cấp thị xã, cô đặt rất nhiều hy vọng. Thế nhưng cả hai đứa sau này đều chỉ ngấp nghé mức đoạt giải làm cô rất phiền lòng. Khoảng 5 năm sau đó, trong một lần đi dự lễ khen thưởng học sinh giỏi, mình gặp lại cô. Lúc này cô đã có học sinh đoạt giải thi Tiếng Việt toàn quốc.

Thầy giáo hồi lớp 9 là thầy Thuật. Thầy là giáo viên dạy Toán rất giỏi. Năm ấy là năm đầu tiên trường tỉnh lẻ của mình chọn lọc ra một lớp những đứa học khá nhất của khối 8 năm trước đó và thành lập lớp 9A. Đó là năm học có quá nhiều kỷ niệm tuyệt vời. Thầy Thuật không phải giáo viên chủ nhiệm, nhưng Toán là một môn học được tăng giờ giảng, ngoài môn Văn của lớp 9A. Trong số những học sinh 9A, thầy đặt niềm tin lớn vào mình. Và việc mình cùng với Hùng lọt vào vòng thi tỉnh môn Toán, sau đó có giành giải, tuy nhiên không đủ cao để vào đội tuyển thi toàn quốc, không làm thầy phiền lòng. Thầy vẫn rất tin tưởng và thường xuyên đem mình ra làm gương cho các em lớp dưới (được nghe kể lại, chứ thầy chưa bao giờ khen mình trước mặt người khác). Thầy không chỉ là thầy, mà còn là người bạn. Thầy cao ráo, đẹp trai, thông minh, vợ hiền giỏi, hai đứa con trai cũng đẹp trai ngoan ngoãn. Thầy là người vừa khuyến khích mình trong việc học tập (thường xuyên đưa mình thêm các bài toán khó hehehe) vừa tạo điều kiện cho mình tham gia các công tác xã hội nữa. Đó là năm học nếu xét về mặt tình cảm thì là năm mình gặp nhiều thăng trầm sóng gió nhất, có lẽ bởi năm đó là đỉnh cao của tuổi dậy thì. Và lớp 9A có lẽ là lớp học khó quên nhất của cả đời học sinh.

Ngoài thầy Thuật ra, thì ở trường cấp II hồi đó còn có một thầy giáo khác dạy môn Lý, mà tự nhiên lúc này quên mất tên. Thầy giỏi và tài hoa, dù không đẹp trai. Qua thầy mình bước đầu tiếp xúc với âm nhạc quốc tế, thứ hồi đó khá xa xỉ ở nơi tỉnh lẻ. Lý không phải là môn mình quan tâm nhiều, tuy nhiên vì việc vào đội tuyển thi học sinh giỏi năm đó có gặp K. ở đội tuyển Lý, mà, vì chết ở ngay cái nhìn đầu tiên, mình chăm chỉ môn Lý hơn.

Cấp III có nhiều thầy cô hơn, tuy nhiên chỉ có vài người để lại ấn tượng mạnh. Cô Thanh chủ nhiệm suốt mấy năm cấp III là cô giáo hiền dịu nhất mình từng được biết. Cô dạy môn Hóa khá giỏi, tuy nhiên mình không đi học thêm cô mà học người khác. Dù thế, cô vẫn rất yêu quý và tôn trọng mình chứ không có trù dập như nhiều giáo viên khác cùng hoàn cảnh. Cũng nói thêm là trong suốt cả đời học sinh và sinh viên, mình chưa bao giờ quỵ lụy giáo viên. Chưa bao giờ đi học thêm vì nghĩ là để lấy lòng thầy cô, mà chỉ đi học nếu thấy có thể giúp cho việc thu nạp kiến thức. Cô Thanh, cũng như thầy Thuật, là hai người bạn lớn mà cả sau này mình không bao giờ quên.

Ngoài cô Thanh, thời cấp III còn có một thầy quên mất tên, dạy môn Giáo dục công dân năm lớp 11, là người thầy mình không quên về ấn tượng tốt. Thầy đã già, có lẽ chuẩn bị về hưu. Mỗi giờ giảng của thầy đều không quá sách vở, mà thầy đi sâu vào thực tế, vào phát triển của đất nước, thế hệ trẻ, những khó khăn, bất cập của đời sống. Đó là người thầy nói với lớp chuyên Toán bọn mình là các em cố gắng để sau này mỗi người sẽ trở thành một nhà quản lý giỏi, giúp xây dựng đất nước. Thầy nói với sự tin tưởng lớn.

Thời cấp III còn một người thầy khác, thầy Bình. Mình là đệ tử học thêm Toán của thầy suốt 3 năm cấp III, dù thầy không dạy lớp mình ở trường, Thầy gầy gò, tóc lúc nào cũng rất nhiều gàu vì chắc nhiều ngày không gội nhưng thầy là một chuyên gia Toán Tin rất giỏi. Thầy quý mình vì hay đưa ra cách giải khác với cách giải của thầy, có lúc hay hơn, có lúc không hay bằng, nhưng điều quan trọng là khác. Có lần thầy nói "Chưa có đứa nào giải bài này như thế" làm mình mũi phổng to đùng sắp nổ. Nhà Thầy ở phố Lê Lợi, ngay đối diện nhà thờ chính của giáo phận Hưng Hóa. Phố Lê Lợi là phố có vẻ phố nhất của cả thị xã nhỏ bé.

Dù ai đó có phê phán thầy cô giáo, nhưng trong số nhiều người thầy nhàn nhạt, không yêu nghề, vẫn có những người thầy cô giáo thật sự xứng đáng với tên gọi ấy. Mẹ mình cũng là một người như vậy, dù mình chưa bao giờ là học sinh của bà. Nhưng, chỉ qua thái độ và những gì nghe kể lại từ những học trò và phụ huynh học trò của bà, khi bà đã không còn đứng trên bục giảng, mình hiểu mẹ mình đã là một cô giáo xứng đáng.

Gửi đến mẹ, và các thầy cô giáo cũ, dù chắc rằng sẽ chẳng ai trong số họ đọc được những dòng này, lời chúc và lời cảm ơn chân thành nhất nhân ngày của các nhà giáo Việt Nam.

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2009

Into the Wild – Đi tìm sự thật với Thoreau



Rather than love, than money, than fame, give me truth.
Hơn cả tình yêu, tiền bạc, danh vọng, hãy cho tôi sự thật.
trích dẫn từ Walden (1854)
Henry David Thoreau (1817 – 1862)
– Tiểu luận gia, triết gia Mỹ


Thật khó để viết về một tác phẩm ảnh hưởng sâu rộng đến định hướng cuộc sống của chính bạn. Bởi bạn có nguy cơ phơi bày đời mình một cách khó kiểm soát. Into the Wild là một trường hợp như thế đối với tôi. Xem phim của Sean Penn ba lần, đọc sách của John Krakauer hai lần, tìm kiếm những tác phẩm liên quan của Henry David Thoreau, Jack London, Lev Tolstoy và nghiên cứu lại. Tôi vẫn chơi vơi giữa những hỗn loạn và giằng xé của việc viết hay không viết. Rồi tình cờ tôi đọc được những suy nghĩ của Thoreau được người đời sau trích dẫn và ghi nhớ làm kim chỉ nam cuộc sống. Trong tôi bỗng lóe lên một đốm lửa nhỏ, nó bừng lên chiếm dần lòng tôi rồi lan tỏa như ánh sáng hướng đường đi tới sự thật. Một sự thật của Christopher McCandless (hay Alexander Supertramp) gắn liền với Thoreau, hay cũng có thể là sự thật của chính tôi?


Mối liên hệ thời gian và con số

Vào mùa hè năm 1845, ở tuổi hai mươi tám, Thoreau nhận lời mời của người bạn tri kỷ Emerson đến xây một nếp nhà một phòng bằng gỗ bên bờ Tây Bắc của hồ Walden, vùng Concord, bang Massachusetts. Ngày quốc khánh Mỹ mùng Bốn tháng Bảy năm đó, Thoreau chính thức đến ở căn phòng gỗ chiều rộng ba mét, chiều dài bốn mét rưỡi. Chi phí xây dựng ngôi nhà này có giá chính xác hai mươi tám đô la và mười hai xu rưỡi là những thứ cần cho xây dựng mà Thoreau phải mua. Những chi tiết này được Thoreau miêu tả trong Walden, một tập tiểu luận của ông về quá trình sống hai năm hai tháng ở đây. Ông sống một mình giữa thiên nhiên bằng hai bàn tay lao động, tuy không thực sự cách ly hẳn khỏi thế giới con người.

Gần một thế kỷ rưỡi sau, vào mùa hè năm 1990, một thanh niên hai mươi hai tuổi tên Christopher McCandless từ bỏ mọi thứ thuộc quá khứ ở bờ Đông nước Mỹ phía sau để lên đường, lấy tên mới Alexander Supertramp. Sau khoảng hai năm hai tháng, người ta tìm thấy xác anh trong một túi ngủ tại chiếc xe buýt số hiệu 142 bỏ hoang ở một vùng đất rậm rạp cỏ cây gần một lối đi xuyên rừng không xa vườn quốc gia Denali, bang Alaska. Anh được xác định là đã qua đời vì đói và có thể do ngộ độc vào giữa tháng Tám năm 1992. Trong cuốn nhật ký của anh được tìm thấy, ngày viết cuối cùng Mười Hai tháng Tám có những dòng sau: „Tôi đã sống một cuộc sống hạnh phúc và ơn Chúa. Tạm biệt và mong Chúa phù hộ cho tất cả!“, ở dưới ký tên Christopher McCandless.

Một thập kỷ rưỡi sau cái chết của Alex (tên gọi tắt của Alexander), vào tháng Chín năm 2007, bộ phim Into the Wild của đạo diễn Sean Penn dựa trên cuốn sách cùng tên của Krakauer xuất bản năm 1996 về hành trình của Alex do Emile Hirsch hóa thân ra mắt khán giả.

Khoảng một năm rưỡi sau khi bộ phim ra mắt, tôi ngồi viết những dòng này.


Chương 1: Quẳng gánh lo đi mà vui sống

Hầu hết những thứ xa xỉ và nhiều thứ được gọi là tiện nghi của cuộc sống không những không cần thiết, chúng thậm chí là những trở ngại cho sự vươn lên của con người. Thoreau đã viết như thế.

Có khi nào tôi đã dám từ bỏ danh vọng để sống một cuộc sống hoàn toàn khác đi? Có khi nào tôi đã dám rũ bỏ tấm áo choàng của một quân cờ trong bàn cờ ma trận thế sự, để sống thật là mình? Và, có khi nào tôi đã dám từ chối những tiện nghi mà cuộc sống và cơ hội mang lại?

(Vui lòng đọc tiếp tại đây)


Bonus:

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Hoài niệm

Khi rời quê hương tôi 19 tuổi. Khi đi mang theo những nỗi nhớ nhung nặng trĩu, dù vô cùng hồi hộp về nơi đến.

Những nỗi nhớ của tôi, không chỉ là những năm tháng ngay sát khi rời quê nhà, mà cả những hình ảnh, cảm giác, mùi vị đã ăn sâu vào tâm trí trong cả cuộc đời trước đó. Chẳng hạn, khi nói đến núi, là hình ảnh Ba Vì hiện ra ngay. Nói đến sấu, là ứa nước miếng. Nói đến màu đỏ, là nhớ hoa gạo. Nói đến thu, là nhớ Hà Nội. Nếu phải hình dung Việt Nam bằng một màu sắc, tôi nghĩ ngay đến màu xanh lá cây. Vì tuổi thơ tôi in đậm hình ảnh những đồng lúa chạy dài, những quả đồi sắn, đồi chè, những cây ăn quả trong vườn nhà bốn mùa xanh mướt. Những nỗi nhớ, ký ức đã được mã hoá. Không xoá đi được.

Ở nhiều nơi, mỗi nơi vài năm. Đi nhiều nơi, từ vài ngày đến vài tháng. Mỗi miền đất làm dày thêm cuốn sách hoài niệm của tôi. Những ký ức về sau này không được mã hoá, mà đến tự nhiên như hơi thở, đôi khi không xác định. Đôi khi như tro bụi bay về(*).

Những hoài niệm làm tôi nao lòng. Những cái ở gần hơn có vẻ tinh tế hơn. Khi tôi sống ở Paris, tôi rươm rướm khi nhìn thấy tấm hình góc phố Berlin với những người lái taxi đứng ngoài trời tuyết. Người không biết có thể nghi ngờ nó được chụp ở đâu đó khác. Nhưng hoài niệm của tôi, kỷ niệm của tôi cho tôi tín hiệu đấy phải là Berlin. Khi tôi về sống lại ở Berlin, một lần nhìn thấy bức ảnh chụp sân ga đầy tuyết, đèn mờ ảo. Tôi quả quyết đấy là Paris, dù nó có thể đã được chụp ở một nơi khác. Đấy là kết quả của cảm giác. Những cái ở xa hơn thì lại trở về ấn tượng cố hữu: đỏ là hoa gạo, thu là Hà Nội. Đó là kết quả của đúc kết.

Hai thứ quả mười năm nay tôi chưa được ăn như đúng hương vị đã có trong đúc kết, là na và mít. Này hoài niệm ơi, hãy để hương vị ấy ở chỗ nó từng xâm chiếm hồn tôi. Nụ hôn tám năm nay tôi vẫn không thể quên. Này hoài niệm ơi, hãy để cảm giác ấy ở chỗ như tôi đã từng có nó.

Những khoảnh khắc. Đúng rồi, tất cả chỉ là những khoảnh khắc thôi. Cái chớp mắt duy nhất nối những khoảnh khắc đó lại, như trong phim La Jetée, là khi ta hoài niệm.

Hai câu hỏi tôi hay được hỏi nhất là: “Có nhớ Việt Nam không?” và “Có muốn quay trở lại Việt Nam sống không?” Câu đầu tiên chắc chắn tôi gật. Nhưng tôi không thể gật hay lắc với câu thứ hai. Câu trả lời nằm giữa gật và lắc.

Vì tôi còn muốn vấn vương hoài niệm.

(*) mượn ý của Vaugan/Đoàn Minh Phượng

(Bài đã đăng trên Sài Gòn Tiếp Thị)

*************************************

Chú thích:
1. Cảm ơn bác Goldmund đã thông báo giùm là bài đã được đăng. Bài này nằm trong ngăn kéo Ban biên tập có lẽ đến nửa năm. Thật là một bất ngờ thú vị.

2. Tôi rất kỵ dùng dấu ba chấm. Ngược lại, người biên tập của SGTT thích dấu ba chấm. Nên trong bài đăng báo có thêm những dấu ba chấm.

3. Bài này nguyên thủy là một entry đã từng đăng trên blog yahoo 360 hơn một năm về trước.

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009

Wind of Change

10 năm trước, tôi là sinh viên mới đến Berlin. Đêm kỷ niệm 10 năm bức tường đổ, tôi cùng mấy người bạn cùng trường cả Đức và Việt đạp xe lên cổng thành Brandenburg, nơi diễn ra lễ hội. Trong cái lạnh của đêm, chúng tôi hòa mình chung nhịp bài hát Wind of Change của ban nhạc Scorpions, lúc ấy đang biểu diễn live trên sân khấu.

Tôi đã khóc. Ôm vai bạn mình. Bạn ôm vai tôi. Chúng tôi nhìn nhau.

Cuối tuần qua, tôi trở lại Berlin dự hội nghị Falling Walls. Những nhà khoa học hàng đầu thế giới các lĩnh vực được mời về, mỗi người phát biểu 15 phút về làm sao có thể phá vỡ bức tường trong lĩnh vực nghiên cứu của họ. Angela Merkel - bà thủ tướng Đức - phát biểu trong hội nghị làm sao để phá vỡ những thử thách của thế kỷ 21. Bà nói rất cuốn hút, trong đó có một ý chính là chúng ta phải cố gắng tập tìm hiểu và trân trọng sự khác biệt về văn hóa giữa các dân tộc, tôn trọng người mà không làm mất đi những giá trị của bản thân mình.

Ngày hôm trước, tôi đi qua East Side Gallery - phần triển lãm ngoài trời dài 1,3 km gồm những tác phẩm vẽ lên bức tường Berlin, ở đúng vị trí của nó. Ở một khu trống giữa các bức tường gần bờ sông, một nhóm người đang cùng hát quốc ca Đông và Tây Đức hòa vào nhau, cùng với 3 nghệ sĩ sắp đặt người Trung Quốc biểu tình về sự cấm đoán trang twitter về sự kiện bức tường Berlin ở Trung Quốc: một anh đứng hát, một chị ngồi xếp gạch thành một bức tường, một anh đang cắt rời trang giấy khổ lớn in dòng thông báo trên màn hình computer khi người ta gõ cửa địa chỉ của trang web nói trên tại Trung Quốc.

Trang web này không tồn tại.


20 năm đã trôi qua. Có bức tường nào lớn hơn thế?

Bức tường lửa trên mạng. Chính sách cấm đoán của một thể chế tự nhận là nó đầy lo sợ khi cố chặn lại những luồng thông tin không thể ngăn được ý chí của con người, quyền chính đáng của con người khao khát tự do và độc lập, khao khát tìm hiểu những thế giới khác với thế giới mình đang sống, để vượt qua bức tường của sự sợ hãi mà trở thành bè bạn cảm thông. Người ta vượt được tường lửa.

Một bức tường khác đang được xây lên, khi không có tờ báo nào trong số mấy tờ cấp tiến như Sài Gòn Tiếp Thị, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Vietnamnet đưa tin dù chỉ một dòng về một sự kiện mà cả thế giới kỷ niệm. Làm sao phá được bức tường này?

Berlin vẫn lạnh. Trời âm u, sương mù và mưa phùn. Những gương mặt băng giá trên tàu điện. Bonjour tristesse!

Không có cơn gió nào.

Wind of Change
by Scorpions

I follow the Moskva
Down to Gorky Park
Listening to the wind of change
An August summer night
Soldiers passing by
Listening to the wind of change

The world closing in
Did you ever think
That we could be so close, like brothers
The future's in the air
I can feel it everywhere
Blowing with the wind of change

Chorus:
Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change

Walking down the street
Distant memories
Are buried in the past forever

I follow the Moskva
Down to Gorky Park
Listening to the wind of change

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow share their dreams
With you and me

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change

The wind of change blows straight
Into the face of time
Like a stormwind that will ring
The freedom bell for peace of mind
Let your balalaika sing
What my guitar wants to say

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow share their dreams
With you and me

Take me to the magic of the moment
On a glory night
Where the children of tomorrow dream away
In the wind of change





************
Đi coi East Side Gallery với marcus nha:















Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2009

Slumdog Mafia: marcus và các bưởi hấp diêm ra sao?



24:00 đêm nay, mời quý vị và các bạn qua blog chú Ba Sài Gòn để xem phim Slumdog Mafia: The End of Destinies nhé, bộ phim dài chừng 55 phút.

Phim đã hấp diêm marcus ra sao, ai chưa đọc có thể đọc lại ở đây.

Thế còn marcus trong phim hấp diêm ra sao? Và các bưởi khác hấp diêm ra sao?

Mong nhận được sự chia sẻ của mọi người.

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2009

Slumdog Mafia: The End of Destinies - Ăn bún thang Hà Nội


Linh cảm là một thứ năng lượng trời đất sinh ra ban cho con người. Thứ năng lượng này đem lại những nhận xét cảm tính ban đầu thường rất chuẩn xác. Tôi đã từng tiên liệu rằng, Slumdog Mafia sẽ có phần kế tiếp. Và tôi cũng linh cảm rằng, chú Ba Sài Gòn tức Phúc Đoàn là một người có năng khiếu làm phim thực thụ. Điều thứ nhất thì đúng, nhưng điều thứ hai, rất tiếc, không đúng.

Bởi vì nó quá đúng.

Với Slumdog Mafia: The End of Destinies, chú Ba đã làm tôi như bị thổi bay đi bởi sự hấp diêm của câu chuyện, hình ảnh, âm nhạc, và diễn xuất. Nhìn chung, đây là một tác phẩm được làm nghiệp dư nhưng thực sự mang tố chất của một phim điện ảnh. Tôi nghĩ rằng bộ phim này, cùng với phần một của nó, hoàn toàn có thể được triển khai thành một bộ phim dài chiếu trên màn bạc hấp dẫn khán giả. Và tôi tin tưởng rằng có thể tìm được nhà đầu tư cho nó, nếu nhà đầu tư ấy ngoài việc nghĩ đến lợi nhuận còn có một tình yêu cho điện ảnh, và nếu chú Ba tiếp tục muốn làm phim và làm tốt hơn nữa những gì đã từng thể hiện.

Vì sao tôi có thể linh cảm, vâng, linh cảm như vậy?

Trước hết, Slumdog Mafia: The End of Destinies có vẻ như một mớ thập cẩm nhiều thể loại: bi, hài, võ thuật, xã hội đen, tình cảm, gay, v.v. Nhưng mớ thập cẩm này được chế biến một cách ngon miệng. Có thể ví Slumdog Mafia: The End of Destinies như một bát bún thang Hà Nội: mát trong của sợi bún, ngọt của nước lèo, thanh thoát của làn trứng tráng mỏng thái chỉ, bùi của lườn gà xé phay, tan ra đầu lưỡi của giò lụa thái sợi, hăng hăng của mùi tàu rau răm và thi thoảng xuýt xoa bởi vị cay của tinh dầu cà cuống.

Câu chuyện phim khá lắt léo với nhiều tình tiết bất ngờ và người xem thật sự phải để ý rất kỹ mới hiểu rõ được những khúc mắc của các nhân vật và vì sao họ lại hành động như thế. Thực ra điều này hoàn toàn có thể được làm tốt hơn, nếu như những dòng dẫn chuyện thừa ở chỗ này được đưa vào chỗ khác với tính chất phụ đề thực sự cho những đoạn thoại không rõ ràng vì thu âm không tốt. Tính rõ ràng của thoại cũng có thể được khắc phục bằng cách giảm âm lượng nhạc nền trong những đoạn thoại.

Với cách kể chuyện đan xen quá khứ - hiện thực, chú Ba đã dám thử sức với một thách thức cơ bản của kể chuyện trong phim: làm sao để mang lại cho người xem cảm giác thấu hiểu được câu chuyện mà không bị phô, không đánh giá thấp khả năng cảm nhận của khán giả? Nếu như cách dùng hình ảnh với độ tương phản ánh sáng cao đối lập với hiện tại được dùng khá nhuần nhuyễn, thì những dòng giải thích bằng lời đôi khi làm tôi hơi khó chịu bởi tính thừa thãi của nó.

Bí quyết để tạo nên một bát bún ngon, không những ở vẻ bề ngoài mà còn ở chất lượng bên trong, chính là sự gia giảm liều lượng. Phần giới thiệu nhân vật Trí Thất - với xuất thân khá thú vị - đáng lẽ cần được chăm chút và khai thác nhiều hơn để tạo sự bất ngờ. Cũng tương tự như thế là những diễn giải sự xuất hiện của nhân vật khi liên hệ với phần kế tiếp bằng lời. Đây là ví dụ về những điểm mà kịch bản có thể được chỉnh sửa cho hấp dẫn và phù hợp hơn.

Hơn nữa, Slumdog Mafia: The End of Destinies mang một tư duy hình ảnh khá rõ rệt: những thử nghiệm về cách cắt cảnh được làm rất chuyên nghiệp giúp cho người xem có thể nhìn nhận câu chuyện từ phía nhân vật Phúc Đoàn: những giằng xé, hỗn loạn, sự thơ ngây hay mưu tính trong con người phức tạp này. Ba phân đoạn tiêu biểu thực sự xuất sắc gồm: Phúc tỉnh dậy từ giấc mơ, Phúc gặp lại Linh tại nhà sàn và Phúc chạy lên cầu thang tìm Linh. Có cảnh quay gợi liên tưởng đến Kill Bill khi Nàng Dâu bị đánh hội đồng bởi tay chân của Bill. Riêng cảnh kết thúc thực sự là một đỉnh cao của tư duy hình ảnh, khi máy quay dần dần rời ra xa, chia tay những nhân vật của Slumdog Mafia, và chia tay cả "Slumdog" sừng sững phía sau. Tất nhiên, cũng có những hạt sạn nho nhỏ như lộ máy quay hay áo lấm lem thành áo trắng tinh, nhưng chúng quá nhỏ so với thành công tổng thể của hình ảnh toàn bộ phim. Vì thế người ăn bún có thể nuốt chúng một cách dễ dàng theo độ trơn tuột của sợi bún.

Riêng phần âm nhạc, tôi có thể khen ngợi rất nhiều về cách chọn những bản nhạc phù hợp và hỗ trợ cho hình ảnh. Nhưng điều quan trọng hơn tôi muốn nói là sự lạm dụng âm nhạc đôi khi có thể gây phản tác dụng. Ngoài việc lấn át lời thoại ở một số chỗ, sự thiếu liền mạch của âm nhạc giữa các trường đoạn ở một vài khúc có lẽ đã làm giảm bớt một phần cảm xúc đem lại từ âm nhạc, vốn mang tính phụ trợ là chủ yếu trong một bộ phim. Tất nhiên có những tác phẩm như There Will Be Blood mà âm nhạc cũng là một nhân vật, tuy nhiên nó chỉ trở thành nhân vật khi sự xuất hiện được tính toán một cách kỹ càng, không dàn trải, và được tiết chế ở mức có thể nhất.

Nếu để nói về một yếu tố dẫn đến thành công của Slumdog Mafia: The End of Destinies ngoài cố gắng cá nhân của chú Ba, thì đó chính là tập thể những người tham gia giúp bộ phim hoàn thành. Họ đứng trước máy quay làm diễn viên, đứng sau máy quay làm người quay phim, tất cả hỗ trợ nhau để có thể giúp chú Ba kể được câu chuyện mình muốn kể. Diễn xuất của toàn bộ các nhân vật đã xuất hiện trong phần một nay đã trở nên xuất sắc hơn rất nhiều. Tôi muốn nhấn mạnh chữ xuất sắc bởi họ hoàn toàn diễn bằng bản năng nhưng đã lột tả rất rõ cảm xúc của nhân vật. Linh Vũ có tố chất của một diễn viên chuyên nghiệp. Trí Thất và Vũ Nguyễn tiếp tục thể hiện khả năng hóa thân rất tự nhiên. Hải Lê, Công Vũ và Phúc Đoàn đã có những tiến bộ vượt bậc trong diễn xuất. Riêng Trí Cao - nhân vật mới của Slumdog - có chút ngô nghê nhưng lại khá phù hợp với vai diễn.

Phần võ thuật trong phim chỉ có thể được miêu tả bằng từ: hấp diêm. Những diễn viên nghiệp dư đã thể hiện hết mình để mang lại những màn đấu tay đôi, tay ba, tay bốn vô cùng hồi hộp. Những trường đoạn võ thuật này lại càng trở nên hấp dẫn hơn qua con mắt chỉ đạo võ thuật và máy quay của chú Ba mang đầy tính điện ảnh.

Và cuối cùng, vì sao bộ phim màn ảnh rộng có thể tìm được nhà đầu tư? Vì khả năng đưa sản phẩm (Product Placement) vào phim không sống sượng mà thậm chí còn mang lại nụ cười hài hước rất chuyên nghiệp của chú Ba. Đưa quảng cáo vào phim mà không làm phim trở nên lố bịch, đó là cách làm bình thường trên thế giới. Tại Việt Nam, những cố gắng trước nay trong lĩnh vực này vẫn còn khá phản cảm. Sự duyên dáng của ứng dụng kinh doanh này trong Slumdog Mafia: The End of Destinies có lẽ nhờ vào cách suy nghĩ của sinh viên ngành Tài chính - Kế toán. Vâng, đây là một bộ phim của những sinh viên không ở trong trường điện ảnh.

Ở chương cuối cùng của bộ phim, khi những lời tâm sự của Phúc vang lên, lòng tôi chợt bùi ngùi. Có chút gì luyến tiếc, có vị cay cay của cà cuống, bởi bộ phim khẳng định sự kết thúc của Slumdog Mafia. Triết lý của nhân vật Phúc, rằng cuộc đời này chỉ có ý nghĩa khi ta biết rằng ta không một mình, cho dù những người quanh ta có thể là người tốt, người xấu, người giúp đỡ, kẻ thù hận, đã mang lại cho bộ phim một tầng ý nghĩa khác dưới làn nước lèo của bát bún thang Hà Nội: đó là sự kết nối của vạn vật trong thế giới này: bún, trứng, gà, giò, rau răm, mùi tàu. Ăn xong, xuýt xoa vì ngon, mắt hơi dàn dụa vì cay, hay bởi sự tiếc nuối rằng bát bún đã hết mất rồi?

Hy vọng là không, bởi còn món chè bưởi đầy hứa hẹn. Vâng, trong phần hai này sẽ có sự xuất hiện của các bưởi luôn ủng hộ chú Ba hết mình trong quá trình làm phim của chú Ba. Với vai trò nào và hấp diêm ra sao, mời mọi người tự tìm hiểu trong Slumdog Mafia: The End of Destinies, sẽ có buổi ra mắt toàn cầu ngày 7.11 tới tại Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, và ngay sau đó sẽ khởi chiếu tại blog chú Ba Sài Gòn.



Nguồn ảnh bún thang: monngonhanoi.com