Thứ Hai, 9 tháng 4, 2012

Đi cùng Việt Linh trên những chuyến tàu


Tôi đọc Việt Linh chuyện và truyện(*) cũng như viết bài này trên những chuyến tàu xuyên châu Âu. Trong khi tàu chạy với vận tốc trên 300 ki lô mét/giờ, Việt Linh dẫn tôi đi cùng những tiếng vọng của ký ức, những day dứt của hiện tại và thắp nhóm trong tôi một niềm hy vọng về tương lai.

Trên hết, Việt Linh chuyện và truyện như một góc vườn bình yên có tiếng chim hót níu chân tôi, dù cuộc sống đang trôi với tốc độ của tàu cao tốc, và tôi đang lang thang trên những nẻo đường thiên lý.

Các bạn cũng như tôi biết đến cái tên Việt Linh trước hết là của điện ảnh: tác giả của Gánh xiếc rong, Dấu ấn của quỷ, Chung cư, Mê Thảo - thời vang bóng. Như cánh chim đầu đàn, Việt Linh khai sáng cho lứa đàn em chúng tôi tinh thần đam mê, dám sống, dám làm.

Chị luôn dõi theo và hỗ trợ chúng tôi những lúc cần thiết, vừa như một người chị dịu dàng, vừa như một cô giáo nghiêm khắc. Tinh thần, tình cảm quan tâm tha thiết ấy không chỉ được thể hiện trên màn ảnh, trong cuộc sống, mà phảng phất trong mọi câu chuyện được kể ở cuốn sách văn học thứ hai của chị.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời chị - cuộc đột quỵ do làm việc quá sức vào dịp Tết 2005 mang đến cho chị một mối quan tâm mới: chính mình. Như những chia sẻ chân thành của chị trong Xin lỗi bản thân, rằng khi nhìn nhận lại cách đối xử với chính ta, ta sẽ biết nên đối xử với người khác như thế nào. Câu chuyện cá nhân của một Việt Linh làm ta liên hệ đến những vấn đề xã hội vĩ mô hơn. Tương tự, những ký ức tươi đẹp của thời đi kháng chiến của thiếu nữ Việt Linh (Hoàng Cầm sương khói) đồng thời là lời nhắc nhở, phê bình xác đáng về đổi thay chân giá trị từ thời chiến qua thời bình. Ngay từ cuốn sách đầu tay Chuyện mình, chuyện người xuất bản năm 2008, Việt Linh đã cho thấy một tinh thần đấu tranh trầm tĩnh nhưng quyết liệt vì tiến bộ, công bằng xã hội.

Những câu chuyện nhỏ về gia đình, về những người thân quen luôn là đề tài yêu thích của chị, và cũng là những câu chuyện làm tôi thích thú nhất. Có lẽ bởi nó gần gũi, thấm đẫm tình yêu thương - điều mà người đọc có thể chia sẻ và học hỏi, ví dụ từ việc nuôi dạy đứa con lớn lên trong hai nền văn hóa (Theo con đi học, Ba chuyện nhỏ của hai đứa nhỏ). Đọc Việt Linh, chúng ta dễ cảm ra những bài học đơn giản mà thấm thía: chấp nhận sự khác biệt (Móng tay màu xanh), đối diện với sự thật và quan tâm tới hậu quả (Thật giả kim cương), nhận ra những cái chết lâm sàng trong cơ thể sống (Tưởng như là sống). Dù viết bài về điện ảnh hay truyện ngắn - nơi mà ranh giới giữa truyện và chuyện được cố tình xóa mờ (Sợ trộm, Thiện tâm buồn, Tam giác im lặng), Việt Linh luôn liên hệ đến thực tiễn xã hội và đề cao tính chân thiện mỹ - trong đó tính chân xác đặc biệt được tôn trọng, như ngay trong lời mở đầu cuốn sách.

Việt Linh chuyện và truyện còn cho thấy tinh thần lao động nghề nghiệp nghiêm túc của Việt Linh trong văn học. Ta có thể bắt gặp những từ đậm chất Việt Linh: duyên quả, hân ân, chao dao, hơ hểnh, cùi cụi...; hay những lối so sánh rất đặc biệt và gợi cảm: câu chuyện dài như lưỡi kiếm, bức ảnh mẹ - con được cắt dán gập gờ như tiếng nấc... (Chiều chiều ra đứng ngõ sau). Việt Linh từng tâm sự với tôi rằng chỉ khi nảy ra được cái tên bài chị mới bắt tay vào viết, điều này được chứng minh bởi những tên bài luôn luôn thích đáng, khó quên trong từng câu chuyện nhỏ.

Con tàu Eurostar xuyên eo biển Manche nối châu Âu lục địa và nước Anh chuẩn bị tiến vào hầm ngầm. Rời Paris và nước Pháp, tôi bỗng dưng nhớ về những trải nghiệm của cá nhân mình trong mối liên hệ với những câu chuyện được kể trong Việt Linh chuyện và truyện. Là lần đi ăn quán Kim Anh (Đi quán gặp tình), là nơi yêu thích của tôi ở Paris: nghĩa trang Père Lachaise (Khu vườn ký ức), là những chia sẻ trực tiếp về nghề nghiệp, về điện ảnh và cuộc sống tại căn hộ của chị ở quận 13 Paris mà đôi khi tôi có dịp ghé thăm.

Đâu đó dọc đường tàu, hoa Nhân kiều (tên bài viết cuối cùng trong sách) đang tưng bừng chào đón nắng xuân. Tôi bỗng ước ao con tàu cao tốc này quay đầu hướng về Đông Nam, thẳng tiến Sài Gòn, nơi Việt Linh đang tất bật với những dự án mới, để tôi có thể mang về tặng chị một bụi Nhân kiều...
_______
(*) Việt Linh - chuyện và truyện (2012), 432 trang, Nhà xuất bản Trẻ.


Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Nỗi cô đơn

Nỗi cô đơn như một cơn mưa.
Dâng từ biển về phương chiều tối;
từ miền đồng bằng xa ngái,
tiến lên trời, nơi luôn chứa nó.
Rồi từ đó mới rơi xuống thành phố.

Đổ xuống vào giờ nhập nhoạng,
lúc mọi ngõ phố trở mình về sáng
khi những cơ thể buồn và chán ngán
rời nhau, tìm mà chẳng thấy;
khi những con người ghét nhau lắm ấy,
phải ngủ chung trên một chiếc giường:

thì nỗi cô đơn trôi theo sông...

*******
(c) marcus dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Thân tặng chị Đoàn Minh Phượng bản dịch này.


Die Einsamkeit

Die Einsamkeit ist wie ein Regen.
Sie steigt vom Meer den Abenden entgegen;
von Ebenen, die fern sind und entlegen,
geht sie zum Himmel, der sie immer hat.
Und erst vom Himmel fällt sie auf die Stadt.

Regnet hernieder in den Zwitterstunden,
wenn sich nach Morgen wenden alle Gassen
und wenn die Leiber, welche nichts gefunden,
enttäuscht und traurig von einander lassen;
und wenn die Menschen, die einander hassen,
in einem Bett zusammen schlafen müssen:

dann geht die Einsamkeit mit den Flüssen...


Rainer Maria Rilke, 21.9.1902, Paris

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Nhiệm vụ của người dịch (1)

-Walter Benjamin-

Chưa thấy ở đâu sự quan tâm đến người thưởng thức mang lại lợi ích cho sự cảm thụ một tác phẩm nghệ thuật hay một hình thức nghệ thuật cả. Không chỉ việc mỗi mối liên hệ với một công chúng nhất định hay người đại diện cho họ làm ta lạc lối, thậm chí khái niệm về một người thưởng thức „chuẩn“ trong mọi diễn giải lý thuyết nghệ thuật là một khái niệm dở, vì chúng chỉ đúng nếu có sự tồn tại và phẩm chất của con người mà thôi. Như vậy nghệ thuật tự nó cũng đòi hỏi phải có phẩm chất vật lý và tinh thần của con người, tuy nhiên không đòi hỏi sự chú ý của con người trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào. Bởi chẳng bài thơ nào dành cho người đọc, chẳng bức họa nào dành cho người xem, chẳng bản giao hưởng nào dành cho người nghe cả.

Có phải một bản dịch là dành cho người đọc không hiểu bản gốc? Điều này có vẻ như đủ để lý giải sự khác biệt thứ bậc trong lĩnh vực nghệ thuật giữa bản gốc và bản dịch. Thêm vào đó dường như lý do có thể duy nhất là nhắc đi nhắc lại "cùng một điều". Một bài thơ "nói" lên điều gì? Nó thông báo gì? Hầu như rất ít đối với người hiểu bài thơ. Điều căn bản của nó không phải là cái thông báo, thông điệp. Tuy vậy bản dịch của bài thơ đó dù muốn truyền tải, nhưng hầu như lại chẳng truyền tải được gì hơn là chính cái thông báo – điều chẳng mấy cốt lõi. Đó cũng là một đặc điểm nhận biết của những bản dịch tồi. Nhưng thứ nằm trong bài thơ ngoài cái thông báo kia – và ngay cả người dịch tồi cũng thú nhận rằng đó là điều cốt lõi – có phải thường được coi là điều không nắm bắt được, bí hiểm, "tính thơ"? Thứ mà người dịch chỉ có thể truyền tải được trong trường hợp anh ta - cũng làm thơ? Từ đó dẫn tới tính chất thứ hai của một bản dịch tồi, thứ mà ta được phép định nghĩa như là một sự truyền tải thiếu chính xác một nội dung không cốt lõi. Rõ là thế, nếu như bản dịch tự muốn phục vụ người đọc. Thế nhưng nếu bản dịch là dành cho người đọc, thì bản gốc cũng phải là như thế. Nếu bản gốc không nhằm dành cho người đọc, vậy làm sao bản dịch có thể được hiểu trong mối liên quan này?

Dịch thuật là một hình thức. Để nắm bắt được nó, ta cần tìm về bản gốc. Bởi trong bản gốc chứa đựng quy tắc của dịch thuật, đó là tính khả dịch của nó. Câu hỏi về tính khả dịch của một tác phẩm thường mang hai nghĩa. Câu hỏi đó có thể là: liệu rằng trong toàn bộ số người đọc nó có ai dịch nổi không? hay là, và thực ra là: liệu rằng bản gốc thể theo phẩm chất của nó có cho phép dịch không và theo đó – chiếu theo ý nghĩa của hình thức này – có đòi hỏi phải được dịch không? Thường thì trả lời câu hỏi thứ nhất chỉ khó thôi, còn câu thứ hai thì bắt buộc. Chỉ có kiểu suy nghĩ hời hợt, cố tình không chấp nhận ý nghĩa trọng yếu của câu thứ hai, mới coi cả hai câu hỏi có ý nghĩa ngang nhau. Cũng phải nói rằng ngược lại, một số khái niệm tương quan giữ được ý nghĩa tốt, thậm chí là tốt nhất, nếu sơ khởi chúng không bị gắn vào duy nhất với con người. Ví dụ như ta có thể nói về một cuộc đời hay một khoảnh khắc khó quên, ngay cả khi tất cả mọi người dường như đã quên chúng rồi. Nếu phẩm chất của chúng đòi hỏi không bị lãng quên, thì sự đòi hỏi đó chẳng có gì sai, mà chỉ là con người ta không tuân theo và đồng thời lái tới một lĩnh vực nó có thể được đáp ứng: Tưởng niệm Đức Chúa. Theo đó tính khả dịch của các hình thái ngôn từ cũng cần được suy xét, ngay cả khi chúng dường như không thể dịch nổi đối với con người. Và sự không thể dịch nổi này có vẻ chẳng đúng trong một khái niệm chặt chẽ về dịch thuật và ở một mức độ nào đó sao? – Trong trường hợp tách biệt này cần phải đặt câu hỏi, liệu rằng việc dịch một số hình thái ngôn từ nhất định có bắt buộc không. Bởi nguyên tắc là: Nếu dịch thuật là một hình thức, thì tính khả dịch đối với một số tác phẩm phải là cốt lõi.

(còn tiếp)

**************

(c) marcus dịch từ nguyên bản tiếng Đức Die Aufgabe des Übersetzers. Bản dịch này tặng cho Cao Việt Dũng, Nguyễn Thái Linh và những người làm công tác dịch thuật khác.

Một ngày Chủ Nhật


Đáng lẽ nó cũng sẽ chỉ là một ngày bình thường như mọi tuần. Uống cà phê, ăn một quả chuối. Ngồi bên lò sưởi đọc cái gì đó.

Nhưng ngày hôm nay khá đặc biệt.

1. Đúng ngày này 1 năm về trước, thảm họa hạt nhân - động đất - sóng thần ở Nhật Bản đã xảy ra. Một cột mốc thay đổi cục diện nhiều thứ trên trái đất này, và thay đổi chính tôi, dù tôi chẳng liên quan trực tiếp đến cái xứ đó.

Đâu ai ngờ được, Fukishima đã có thể làm thay đổi quan điểm về điện hạt nhân ở nước Đức ngay ở những người cứng rắn nhất. Bà thủ tướng CHLB Đức Angela Merkel (đảng Dân chủ Thiên Chúa CDU) ngay trong tháng Ba đã có một cuộc thay đổi ngoạn mục: Từ vị trí ủng hộ điện hạt nhân (vừa ra luật cho phép kéo dài thời gian sử dụng các nhà máy điện hạt nhân) bà tuyên bố dừng ngay việc hoạt động của 7 nhà máy điện hạt nhân cũ nhất trong vòng 3 tháng, kiểm tra về an toàn, để rồi sau 3 tháng đó quyết định đóng cửa vĩnh viễn 8 nhà máy và từ bỏ điện hạt nhân từng bước cho tới năm 2022. Cũng cần mở ngoặc thêm ở đây là việc từ bỏ điện hạt nhân từng được chính phủ tiền nhiệm của đảng Dân chủ xã hội SPD và đảng Xanh quyết định từ năm 2000 và thành luật từ 2002, nhưng sau đó bị chính phủ của bà Merkel điều chỉnh gia hạn vào năm 2010. Chỉ gần một tháng sau Fukushima, lần đầu tiên một ứng viên đảng Xanh được bầu làm thủ tướng một bang lớn ở Đức, đó là ông Winfried Kretschmann ở Baden-Württemberg. Vào mùa thu năm 2011, một cuộc thăm dò ý kiến mang tính đại diện cho tiếng nói của dân Đức cho kết quả 80% dân ủng hộ quyết định rời bỏ điện hạt nhân, 8% phản đối và 12% không nêu ý kiến.

Ngày này một năm về trước, tôi ngồi trước máy truyền hình, khóc nấc lên vì những hình ảnh và thông tin được truyền tải qua truyền thông. Tôi lo lắng cho một số người bạn của tôi ở Tokyo. Một chị và con trai đã chuẩn bị lên đường sang Nhật trở lại từ Hà Nội thì cuối cùng chuyến bay bị hủy. Và chị cùng con trai đã không trở lại Nhật từ ngày đó nữa. Một bạn gái tự nghỉ việc và rời Tokyo đến Đức, nơi anh người yêu đang lo âu ngày đêm và tính bỏ công việc để đến Nhật bảo vệ cô. Họ vừa mới cưới nhau tại Đức hồi cuối năm 2011.

Với tôi, tôi có một quyết định quan trọng cho chính mình. Đó là cú sốc lớn của thế hệ tôi. Thời Tschecnobyl tôi còn quá nhỏ, lại sống trong đất nước ở thời thông tin cấm đoán và thiếu thốn, nên tôi không có cảm giác gì. Nhưng Fukushima thì khác.

Tháng Ba năm trước, tôi cặm cụi ngồi dịch những bài viết của Yuko Ichimura, để chính mình và bạn bè người Việt của mình hiểu hơn những gì đang diễn ra tại Tokyo, và người Nhật họ đang ở trong tình hình như thế nào, cách họ sống và đối mặt với nó ra sao.

Người Nhật đã làm tôi thật tâm nể phục. Và tôi hiểu rằng mình cần sống có ý nghĩa hơn nữa, tận hưởng từng ngày hơn nữa, bao dung hơn nữa. Quyết định của tôi, ngoài việc dành thời gian và tiền bạc để làm việc tôi yêu thích, đi du lịch những nơi tôi muốn đến, còn là việc sống thật với bản thân mình và người xung quanh hơn. Tôi sẽ đến Nhật trong năm nay, có thể là một lần, cũng có thể là hai lần. Nếu mọi chuyện suôn sẻ.

2. Hôm nay là 100 ngày mất của diễn viên Đơn Dương. Chị L. nói là hôm nay hai anh chị sẽ lên chùa thắp nhang và cầu khấn cho anh. Dù anh là người đạo Thiên Chúa. Dù anh cũng không phải là bạn thân của chị và gia đình. Nhưng số phận đen đủi của anh và sự tệ bạc trong đối xử của xã hội đối với anh trong quãng đời 10 năm cuối cùng làm những người dù chỉ biết anh qua màn ảnh hay từng làm việc ngắn với anh có thể trở nên gần gũi chia sẻ và đồng cảm. Thắp cho anh một nén nhang trong ngày này, trong tâm tưởng. Tôi có một tấm hình của anh được chị L. tặng, trên đó có dòng chữ: "Xin chào mọi người ở lại". Tôi không biết mình sẽ làm gì với nó. Tôi chỉ giữ nó như một trong những vật quý giá của đời mình.



Hình trên: For Japan by Kurosama.
Hình dưới: Di ảnh Đơn Dương.

Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

Liên hoan phim thời nay: mâu thuẫn cũ - mới

Sau mỗi lần dự một liên hoan phim đẳng cấp quốc tế, tôi thường có hai dòng cảm xúc trái ngược, cũng hệt như hướng phát triển chung của điện ảnh đương đại: trộn lẫn giữa những cái mới, cái sáng tạo trẻ trung là những sự cũ mèm vẫn được tung hô, ngay tại các liên hoan phim danh tiếng như Cannes, Berlin và Venice.

Cũ lên ngôi, mới phải đợi?

Ba liên hoan phim này ở lần tổ chức gần đây nhất đã trao các giải thưởng cao nhất cho những tác giả có thể gọi là cựu binh của điện ảnh, với những tác phẩm gắn với tính cổ điển và không có đột phá gì quan trọng: Cannes 2011 trao Cành cọ vàng cho The Tree of Life (Cây đời) của Terrence Malick (đạo diễn Mỹ, 68 tuổi), Venice 2011 trao Sư tử vàng cho Faust của Aleksander Sokurov (đạo diễn Nga, 60 tuổi), Berlin 2012 trao Gấu vàng cho Caesar must die (Caesar phải chết) của anh em Paolo và Vittorio Taviani (đạo diễn Ý, 80 và 82 tuổi).

Anh em nhà Taviani nhận Gấu Vàng tại LHP Berlin lần thứ 64

Trong các cuộc tranh tài này không hề thiếu các tác phẩm ấn tượng của những nhà làm phim trẻ hơn rất nhiều, và đáng lẽ họ cần các giải thưởng cao quý này như một bệ phóng tài năng hơn là các tác giả tên tuổi kia. Ngoài việc bộ phim phản ánh cái nhìn mang tính chất đương đại, họ còn rất mạnh dạn và quyết liệt với phong cách điện ảnh. Có thể lấy ví dụ Polisse (Cảnh xát*) của nữ đạo diễn Maïwen (35 tuổi, người Pháp có cha Việt) với các câu chuyện đan xen như một phim tài liệu về một nhóm cảnh sát ở Paris chuyên bảo vệ trẻ em đã gây tiếng vang lớn ở Cannes 2011. Hay bộ phim Shame (Nhục) của Steve McQueen (42 tuổi, người Anh) tại Venice 2011, phản ánh một cách đầy ngụ ý về sự cô đơn và mất phương hướng của giới trẻ trung lưu tại các thành phố lớn. Còn tại liên hoan phim Berlin vừa kết thúc ngày 19.2 vừa qua, các tác phẩm như Rebelle (Nữ chiến binh) của đạo diễn Kim Nguyễn (37 tuổi, người Canada có cha là người Việt) hay Just the Wind (Chỉ ngọn gió) của đạo diễn Bence Fliegauf (37 tuổi, người Hungary) là những bức tranh nhức nhối về hiện thực: trong Rebelle là tình trạng trẻ em bị ép buộc cầm súng trong hàng ngũ phiến quân ở Congo, trong Just the Wind là câu chuyện một gia đình người digan bị phân biệt đối xử và giết chết ở Hungary. Tất cả các bộ phim này đều quyết liệt với lựa chọn phong cách cá tính và đậm chất điện ảnh, nhưng đã không được bước lên bục cao nhất.

Cảnh trong phim Just the Wind, phim được Gấu Bạc - giải thưởng Lớn của BGK, chứ không phải là vị trí cao nhất Gấu Vàng

Liên hệ với bối cảnh Việt Nam, điều này tương tự như việc Đừng đốt của đạo diễn Đặng Nhật Minh được trao giải Phim hay nhất chứ không phải Chơi vơi của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên tại Cánh diều vàng hai năm trước.

...

(đọc tiếp tại đây)

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

Giang Trang hát nhạc Trịnh: "Gìn giữ vẻ đẹp mộc mạc và chân thật"


Năm 2001, Giang Trang xuất hiện lần đầu tiên tại Nhạc Tranh trong đêm nhạc kỷ niệm tròn 100 ngày mất nhạc sỹ Trịnh Công Sơn khi còn đang là sinh viên. Từ đó, Nhạc Tranh là địa điểm đầu tiên tại Hà Nội thường xuyên trình diễn âm nhạc Trịnh Công Sơn với sự tham gia của người hát tự nhận là “amateur” (không chuyên) này. Nhân kỷ niệm Sinh Nhật nhạc sĩ, Giang Trang ra đĩa hát đầu tay Lênh đênh nhớ phố và trình diễn hai buổi tại L’Espace vào ngày 28/29.2. Sau đây là những chia sẻ của chị.

Xin chào Giang Trang, chúc mừng chị đã ra được đĩa hát đầu tiên vào dịp sinh nhật nhạc sĩ Trịnh Công Sơn theo như lời hứa với chính mình. Với đĩa hát này, chị muốn hướng đến người nghe là các bạn trẻ đang ở lứa tuổi sinh viên. Vì sao vậy?

Nếu như nửa đầu Lênh đênh nhớ phố chia sẻ được nhiều hơn với những người nghe đã đi qua thăng trầm trong cuộc sống, thì nửa sau của CD đặc biệt muốn hướng đến đối tượng người nghe là các bạn trẻ đang ở lứa tuổi sinh viên. Ở phần này, bọn mình đã thể hiện một lối chơi nhạc tươi mới và gần gũi hơn với các bạn trẻ bây giờ, muốn thu hút được các bạn trước hết là qua nhạc tính, rồi sẽ đến việc đồng cảm với ca từ trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn. Mình cho rằng những năm tháng sinh viên là khoảng thời gian đẹp nhất của đời người, khi mà chúng ta đến với tình yêu với tất cả sự hồ hởi và chân thật. Vậy thì hãy để âm nhạc và ca từ của Trịnh Công Sơn cùng sát cánh bên các bạn trong hành trình gìn giữ những vẻ đẹp mộc mạc, thanh bình trong một thái độ sống tích cực, bao dung và luôn chân thật trong tình cảm.

Với phong cách acoustic, chỉ với hai nhạc cụ và nhạc công hỗ trợ là ghita (Anh Hoàng) và violin (Anh Tú) đều đến từ nhạc viện Hà Nội, Lênh đênh nhớ phố của Giang Trang ra được tinh thần giản dị và sự vỗ về bình yên của nhạc Trịnh. Quá trình làm việc chung của chị với Hoàng và Tú đã diễn ra như thế nào? Điểm chung nào đã đưa ba người đến với nhau?

Mình tình cờ gặp Anh Tú (Mr. Tú xỉn) và Anh Hoàng ở quán chơi nhạc cho sinh viên. Tú xỉn là tay violin đậm chất lãng tử và được đông đảo các bạn sinh viên yêu mến. Anh Hoàng trẻ hơn, vẫn đang sống một đời sống sinh viên trong trường Học viện âm nhạc quốc gia Hà Nội. Suốt 4 tuần làm việc với hai bạn trong dự án Lênh đênh nhớ phố mình được sống trong một cảm giác „làm việc mà như đi chơi“. Sau nhiều năm mình lại lê la khắp quán xá sinh viên để nghe hai bạn chơi nhạc, đi đến đâu mình cũng tham gia hát đến đó. Điều này làm mình nhớ lại quãng thời gian sinh viên 10 năm trước của mình với những buổi tối thứ 4 hát nhạc Trịnh Công Sơn tại Nhạc Tranh Student Cafe và những tối Chủ Nhật ngồi yên lặng nghe các nghệ sỹ guitar cổ điển trình diễn. Cái cảm giác được „thơ thới trong veo“ trở lại là rất cần thiết đối với mình. Sau nhiều thăng trầm của cuộc sống, mong muốn lớn nhất của mình là vẫn gạn lại được sự hồn nhiên và giản dị khi hát để khai thác tốt hơn một mảng sáng với những bóng nắng hy vọng trong âm nhạc Trịnh Công Sơn.

Điểm chung đã đưa ba bọn mình đến với Lênh đênh nhớ phố đó là một cảm xúc rất trong trẻo, nhiệt thành khi chơi từng ca khúc. Bọn mình rất tôn trọng ý kiến của nhau và nương vào nhau để tạo ra một sự quấn quyện của ba tầng cảm xúc: tiếng violin phiêu lãng đầy xúc cảm của Tú như một con diều, giọng hát lúc xa lúc gần mộc mạc của mình như sợi dây nối con diều cảm xúc với nền guitar tinh tế và lạ của Hoàng - một người cầm dây thả diều rất chắc chắn. Sự lắng nghe lẫn nhau, đồng quan điểm bảo lưu tính giản dị và chân thật của âm nhạc TCS đã khiến cho những ngày thực hiện Lênh đênh nhớ phố thực sự trở thành một cuộc vui chung.

Nhạc Trịnh khi mới ra đời gắn liền với tên tuổi của Khánh Ly và thời kỳ chiến tranh. Phong cách hát nhạc Trịnh của Khánh Ly có thể nói đã ghi dấu ấn dài lâu và đặt mốc quan trọng cho bất cứ ai hát nhạc Trịnh sau đó. Ở thời bình, đã có nhiều ca sĩ thử làm mới nhạc Trịnh. Giang Trang thì sao, chị có nghĩ rằng mình làm mới nhạc Trịnh không?

Theo mình, ở đây không có một sự phá cách gì đặc biệt. Nếu thể hiện được điều gì mới lạ so với những người đi trước, thì đó là từ cảm nhận riêng của bọn mình đối với ca từ trong ca khúc. Những bài hát của Trịnh Công Sơn thường có giai điệu gốc nhẹ nhàng, dễ hát, dễ thân thuộc với sinh viên. Khoan hãy nói về giá trị ca từ, bản thân Trang cho rằng giai điệu trong bài hát của Trịnh Công Sơn bề ngoài có vẻ mộc mạc đơn giản như thế, nhưng chính sự gần gũi và giản dị đó đã đem lại một giá trị tượng trưng phi thời gian và mở ra mảnh đất rộng lớn để chờ đợi những người kể nhạc Trịnh đến đào sâu và sáng tạo. Nhưng tất cả những sự sáng tạo nhất thiết phải dựa trên việc đào sâu vào chuyện kể của ca từ. Đó là lý do vì sao bọn mình đã thể hiện “Góp lá mùa xuân” (ca khúc mang hơi hướng phản chiến) gai góc hơn các bản thu thường thấy, “Đời cho ta thế” mang âm hưởng country/rock n roll để thấy tinh thần du ca, và “Mưa hồng” thì nhẹ nhõm an ủi trong điệu Bossa Nova.

Mười bài hát của Lênh đênh nhớ phố theo thứ tự của nó dường như cùng góp phần kể một câu chuyện của một con người đang thì thầm tâm sự về quá khứ và hiện tại. Thế còn tương lai thì sao, tương lai đóng vai trò gì trong nhạc Trịnh và trong cách hiểu nhạc Trịnh của chị?

Mình hy vọng vào tương lai để thực hiện tới hơn nữa những suy nghĩ và đồng cảm của riêng mình với nhạc Trịnh. Đó là tạo ra được một không gian âm nhạc rõ nét, tạo ra một sự hấp dẫn trong tính nhạc để hướng đến sự đồng cảm của người nghe. Mình có quan điểm rằng dù là một ca khúc rất buồn thì sứ mệnh lớn nhất mà nó phải chạm tới đó là làm vơi đi những tâm sự của người nghe, đem lại sự thư giãn, giải tỏa cho người nghe. Mình muốn làm rõ thái độ lạc quan và dễ sống trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn.

Hai buổi biểu diễn của Lênh đênh nhớ phố đều cháy vé chỉ sau vài ngày khởi bán. Chị có dự định trình diễn các buổi khác nữa, đặc biệt dành cho các bạn sinh viên?

Các bạn sinh viên là đối tượng được mua vé ưu tiên của hai buổi Lênh đênh nhớ phố tại L’Espace. Mình cho rằng cuộc chơi này sẽ còn dài vì đã đến lúc mình muốn chia sẻ nhiều hơn với người nghe những đồng cảm của riêng mình với âm nhạc Trịnh Công Sơn. Mình sẽ suy nghĩ về các dự định với mong muốn sớm được gặp các bạn sinh viên thường xuyên hơn.

Mạnh Cường Vũ thực hiện

Giang Trang yêu thích...

1. Mùa xuân, mùa hạ, mùa thu hay mùa đông? – Mùa thu

2. Nhạc tiền chiến hay nhạc phản chiến? – Nhạc phản chiến: luôn đầy tinh thần yêu thương con người, và những chuyện kể những bài học đáng suy ngẫm

3. Nắng hay mưa? – Mưa thường thân hơn

4. Bình minh hay hoàng hôn? – Hoàng hôn

5. Cà phê hay trà? – Cả hai: cà phê đen và trà mạn

6. Ăn chay hay ăn phải có thịt? – Cũng tùy khoảng thời gian, hoặc nhu cầu dinh dưỡng

7. Váy hay quần? – Nếu để đi gặp bạn bè thì luôn thích mặc quần hơn váy

8. Màu hồng tươi hay màu nâu trầm? – Nâu trầm

9. Sống chậm hay sống gấp? – Sống chậm

10. Facebook hay Blogspot? – Giai đoạn hiện tại là Facebook

11. Xem phim ngoài rạp hay đi hát karaoke? – Hát karaoke nhưng phải đúng bạn hợp, ko thì xem phim một mình cũng ok

12. Hà Nội hay Sài Gòn? – Thích thời tiết Hà Nội nhưng hơi buồn vì bạn bè thân giờ đều đã sống ở Sài Gòn.

13. Đà Lạt hay Nha Trang? – Đà Lạt

14. Tình yêu hay sự nghiệp? – Tình yêu

15. „Ngôi sao ca nhạc đông người hâm mộ“ hay „người hát nhạc Trịnh thầm lặng“? – Người hát amateur nhưng có thể chia sẻ được với nhiều người nghe.

Giang Trang sinh năm 1981, tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương Hà Nội. Trải qua 10 năm hát nhạc Trịnh Công Sơn tại sân khấu không chuyên và từng thu nháp hai album nhạc Trịnh, nhưng phải đến năm 2011, chị mới đủ tự tin để chuẩn bị phát hành đĩa nhạc đầu tiên sau đêm nhạc solo kỷ niệm 72 năm ngày sinh nhạc sỹ Trịnh Công Sơn tại Press Café.

Đĩa CD Lênh đênh nhớ phố do Học viện âm nhạc quốc gia Việt Nam phát hành, có bán tại các địa điểm sau:

Hà Nội: Cửa hàng băng đĩa Hồ Gươm 33 Hàng Bài

Trung Tâm Hồ Gươm Audio – Video số 28 Hàng Dầu, 75 Hàng Bồ

Barbetta Bar & Café – Số 34C Cao Bá Quát

Lollybooks Café – Số 18 Ngõ 131 Thái Hà

Sài Gòn: Café Trầm – Số 111 Nguyễn Phi Khanh, Q1

Huế: Piano Café – Số 11 Trần Thúc Nhẫn

Đà Nẵng: Café Lu – Số 79 Hoàng Văn Thụ

Facebook: http://www.facebook.com/giangtrangmusic



**********

Bài đăng trên SVVN số ra ngày 27.02.2012.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

Phim ảnh 2011


Năm rồi chủ yếu xem phim khi đi LHP như Berlin và Cannes. Còn lại thì ra rạp ít hơn mọi năm. Có lẽ vì mình thỉnh thoảng cũng có cảm giác là xem phim nhiều quá, nhất là giai đoạn tuyển phim lập chương trình cho YxineFF là hầu như tập trung vào đó, không coi phim dài nào hết.

Đặc biệt cả năm vừa qua không coi được phim Việt Nam nào khác ngoài Bi, đừng sợ :D

TOP phim dài 2011 của marcus:

1. Nader & Simin, A Separation. Phim Iran này khi ra mắt ở Berlin là cứu tinh cho cả cái chương trình tranh giải khá gớm ghiếc của năm 2011. Trước khi xem phim này, chẳng có phim nào có khả năng đoạt Gấu Vàng. Đến khi phim này chiếu vào giữa LHP, ai nấy đều biết chắc là Gấu Vàng đây rồi. Phim sau đó thành công lớn ngoài rạp tại chính Iran và ở Châu Âu. Mới đây, phim giành Địa cầu vàng cho phim không nói tiếng Anh hay nhất.

2. Melancholia. Phim này đáng lẽ là ứng viên quan trọng của Cành Cọ Vàng. Chỉ vì vài lời bâng quơ và sự thiếu tế nhị của Lars Von Trier mà sau đó nó chẳng đem lại giải nào ngoài diễn xuất cho Kisten Dunst. Chỉ 10 phút đầu tiên, bộ phim đã có thể đi vào lịch sử điện ảnh.

3. The Artist. Đây là bộ phim hiếm hoi làm người yêu điện ảnh ngay lập tức bị hút hồn. Nó gợi lại thời hoàng kim của một Hollywood, đen trắng, phim câm. Điều đặc biệt đây là một phim Pháp nói tiếng Anh. Lúc đầu, phim này nằm trong chương trình Competition của Cannes nhưng không tranh giải. Sau đó, phim được "nâng cấp" tranh giải. Chẳng ngờ rằng sau đó nó đem lại giải diễn xuất cho Jean Dujardin. Ngoài ra, phim thành công lớn tại Mỹ và được giải Địa Cầu Vàng cho 3 hạng mục khác nhau. Nó được kỳ vọng sẽ làm nên chuyện tại Oscar.

4. La Fee. Bộ phim Bỉ này mang một phong cách fantasy pha hài hước rất độc đáo. Là phim mở màn của danh mục Quinzaine des Realisateurs tại Cannes, nó ngay lập tức tạo được sự chú ý. Chưa có phim nào nói về chuyện tình mà diễn viên xấu hoắc nhưng vẫn hấp dẫn đến vậy.

5. Snowtown. Bộ phim Úc này dựa trên một câu chuyện có thật về những vụ giết người xảy ra ở một vùng quê hẻo lánh. Nó không dừng lại ở đó, mà lột tả các mối quan hệ xã hội, đem đến cho người xem những day dứt và đau xót bởi hoàn cảnh mà các nhân vật bị đẩy vào. Phim không dành cho người yếu đuối.

6. Tomboy. Bộ phim Pháp về một đứa trẻ 12 tuổi có tâm hồn đàn ông trong cơ thể nữ giới. Không màu mè, phim đi thẳng và trực diện với một đề tài mà nếu làm không khéo sẽ bị rơi vào lối mòn. Với diễn xuất tuyệt vời của các diễn viên nhí, đây là một điểm sáng của mục Panorama tại Berlin.

7. Bi, đừng sợ. Đây là phim Việt Nam duy nhất mình xem được trong năm qua. Đã viết về phim này tại đây. Thiết nghĩ, đây cũng là phim Việt Nam cần xem. Nếu bạn chưa xem, hy vọng bạn sẽ sớm có dịp được xem nó.

8. Drive. Bộ phim Mỹ bối cảnh Los Angeles với đạo diễn Đan Mạch này toát lên vẻ độc lập và sự thật nó là một phim độc lập. Đạo diễn Nicolas Winding Refn tìm được sự trợ giúp của Ryan Gosling và anh diễn viên điển trai này đã đóng vai chính kiêm việc hùn tiền sản xuất. Có thêm Carey Mulligan, kết quả là một bộ phim thật sự ấn tượng. Chủ nghĩa anh hùng trong phim ảnh là cái cần bàn cãi, tuy nhiên ta hoàn toàn có thể chấp nhận nó với Drive.

9. Shame. Bộ phim Anh này của Steve McQueen, người đạo diễn mà tôi thấy được khả năng thiên tài từ ngay bộ phim đầu tay của anh: Hunger, chọn bối cảnh là New York. Với diễn xuất vô cùng tuyệt vời của Michael Fassbender và Carey Mulligan, bô phim miêu tả cuộc sống không lối thoát của một chàng trai trẻ tìm quên trong tình dục để mong thoát được nỗi ám ảnh về tình cảm dành cho chính người em gái của mình.

10. Another Year. Một bộ phim Anh nữa của Mike Leigh. Như một bài thơ giản dị, Another Year làm cho ta cảm thấy cuộc sống này gần ta hơn, với cả những yêu thương và đau khổ, thất bại và thành công.

11. Le gamin au vélo. Bộ phim Bỉ này của anh em nhà Dardenne theo đúng phong cách thường thấy của họ: những số phận người bên lề cuộc sống ở một nước tư bản. Và tình người. Câu chuyện về một đứa trẻ yêu và tin cha nó, yêu và đấu tranh vì chiếc xe đạp của nó. Thật sự là phim nào dạng này cũng đều làm mình rơi nước mắt hết.

12. Polisse. Bộ phim Pháp này của Maïwen, cô gái tài năng có 50% dòng máu Việt như là một phim tài liệu. Với một đội ngũ diễn viên hùng hậu và nhiều câu chuyện đan xen, bộ phim cho chúng ta thấy sự phức tạp của vấn đề bảo vệ trẻ em khỏi những sự tàn phá về thể xác cũng như tinh thần.


Phim muốn coi mà chưa coi được:

Pina
Once Upon a Time in Anatolia
Black Swan
The Turin Horse

Phim dở hơn là mình tưởng:

The Tree of Life
Nowegian Wood
Midnight in Paris
Take Shelter
This must be the Place
Saranghanda, Saranghaji Anneunda
Sleeping Beauty

Em còn nhớ hay em đã quên?

Năm rồi thiếu mất ngày 30 nên đêm 29 Tết là đêm cuối cùng. Điều này mình chỉ được biết khi chị gái gọi điện hỏi thế Tết có làm gì không.

Anh hỏi, Tết mình có làm gì không.

Chẳng lẽ Tết mình không làm gì? Thế là gọi điện cho cửa hàng bán đồ Châu Á hỏi còn mở cửa không. Còn. Phi xe đạp trong mưa đi mua đồ đón Tết.

Thực đơn ngày Tết con Rồng: Cá diêu hồng gừng tiêu bỏ lò, cua đồng nguyên con rang giòn, nộm đu đủ, xôi đậu xanh.

Thắp nhang cúng bố và Trời Phật, nhằm lúc 12 giờ đêm giờ Việt Nam.

Ăn xong đầu biêng biêng vì cua đồng và rượu vang, chắc thế. Nên lên gường làm 1 giấc dài không biết trời đất là gì. Trong giấc mơ, anh Tôm Ku ôm mình thật là đắm đuối.

Buổi sáng, tính làm việc mà làm không được. Check mail, nghe Bài ca Hà Nội, xem clip khán giả nói về phim tranh giải YxineFF 2011, rưng rưng xúc động.

Cho đến cái Life in A Day thì không cầm lòng được nữa. Tắt ngay, chứ chẳng lẽ sáng mùng Một mà nước mắt từa lưa ai chịu nổi hả trời?

Năm nay sẽ là một năm đi nhiều.

Năm nay sẽ là một năm một mình nhiều.

Năm nay sẽ là một năm quyết định cuộc đời mình rẽ sang hướng nào.

Nhớ hay là quên không còn quan trọng nữa. Cơ bản là giờ phút này thôi.