Chủ Nhật, 18 tháng 3, 2012

Nỗi cô đơn

Nỗi cô đơn như một cơn mưa.
Dâng từ biển về phương chiều tối;
từ miền đồng bằng xa ngái,
tiến lên trời, nơi luôn chứa nó.
Rồi từ đó mới rơi xuống thành phố.

Đổ xuống vào giờ nhập nhoạng,
lúc mọi ngõ phố trở mình về sáng
khi những cơ thể buồn và chán ngán
rời nhau, tìm mà chẳng thấy;
khi những con người ghét nhau lắm ấy,
phải ngủ chung trên một chiếc giường:

thì nỗi cô đơn trôi theo sông...

*******
(c) marcus dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Thân tặng chị Đoàn Minh Phượng bản dịch này.


Die Einsamkeit

Die Einsamkeit ist wie ein Regen.
Sie steigt vom Meer den Abenden entgegen;
von Ebenen, die fern sind und entlegen,
geht sie zum Himmel, der sie immer hat.
Und erst vom Himmel fällt sie auf die Stadt.

Regnet hernieder in den Zwitterstunden,
wenn sich nach Morgen wenden alle Gassen
und wenn die Leiber, welche nichts gefunden,
enttäuscht und traurig von einander lassen;
und wenn die Menschen, die einander hassen,
in einem Bett zusammen schlafen müssen:

dann geht die Einsamkeit mit den Flüssen...


Rainer Maria Rilke, 21.9.1902, Paris

Chủ Nhật, 11 tháng 3, 2012

Nhiệm vụ của người dịch (1)

-Walter Benjamin-

Chưa thấy ở đâu sự quan tâm đến người thưởng thức mang lại lợi ích cho sự cảm thụ một tác phẩm nghệ thuật hay một hình thức nghệ thuật cả. Không chỉ việc mỗi mối liên hệ với một công chúng nhất định hay người đại diện cho họ làm ta lạc lối, thậm chí khái niệm về một người thưởng thức „chuẩn“ trong mọi diễn giải lý thuyết nghệ thuật là một khái niệm dở, vì chúng chỉ đúng nếu có sự tồn tại và phẩm chất của con người mà thôi. Như vậy nghệ thuật tự nó cũng đòi hỏi phải có phẩm chất vật lý và tinh thần của con người, tuy nhiên không đòi hỏi sự chú ý của con người trong bất cứ tác phẩm nghệ thuật nào. Bởi chẳng bài thơ nào dành cho người đọc, chẳng bức họa nào dành cho người xem, chẳng bản giao hưởng nào dành cho người nghe cả.

Có phải một bản dịch là dành cho người đọc không hiểu bản gốc? Điều này có vẻ như đủ để lý giải sự khác biệt thứ bậc trong lĩnh vực nghệ thuật giữa bản gốc và bản dịch. Thêm vào đó dường như lý do có thể duy nhất là nhắc đi nhắc lại "cùng một điều". Một bài thơ "nói" lên điều gì? Nó thông báo gì? Hầu như rất ít đối với người hiểu bài thơ. Điều căn bản của nó không phải là cái thông báo, thông điệp. Tuy vậy bản dịch của bài thơ đó dù muốn truyền tải, nhưng hầu như lại chẳng truyền tải được gì hơn là chính cái thông báo – điều chẳng mấy cốt lõi. Đó cũng là một đặc điểm nhận biết của những bản dịch tồi. Nhưng thứ nằm trong bài thơ ngoài cái thông báo kia – và ngay cả người dịch tồi cũng thú nhận rằng đó là điều cốt lõi – có phải thường được coi là điều không nắm bắt được, bí hiểm, "tính thơ"? Thứ mà người dịch chỉ có thể truyền tải được trong trường hợp anh ta - cũng làm thơ? Từ đó dẫn tới tính chất thứ hai của một bản dịch tồi, thứ mà ta được phép định nghĩa như là một sự truyền tải thiếu chính xác một nội dung không cốt lõi. Rõ là thế, nếu như bản dịch tự muốn phục vụ người đọc. Thế nhưng nếu bản dịch là dành cho người đọc, thì bản gốc cũng phải là như thế. Nếu bản gốc không nhằm dành cho người đọc, vậy làm sao bản dịch có thể được hiểu trong mối liên quan này?

Dịch thuật là một hình thức. Để nắm bắt được nó, ta cần tìm về bản gốc. Bởi trong bản gốc chứa đựng quy tắc của dịch thuật, đó là tính khả dịch của nó. Câu hỏi về tính khả dịch của một tác phẩm thường mang hai nghĩa. Câu hỏi đó có thể là: liệu rằng trong toàn bộ số người đọc nó có ai dịch nổi không? hay là, và thực ra là: liệu rằng bản gốc thể theo phẩm chất của nó có cho phép dịch không và theo đó – chiếu theo ý nghĩa của hình thức này – có đòi hỏi phải được dịch không? Thường thì trả lời câu hỏi thứ nhất chỉ khó thôi, còn câu thứ hai thì bắt buộc. Chỉ có kiểu suy nghĩ hời hợt, cố tình không chấp nhận ý nghĩa trọng yếu của câu thứ hai, mới coi cả hai câu hỏi có ý nghĩa ngang nhau. Cũng phải nói rằng ngược lại, một số khái niệm tương quan giữ được ý nghĩa tốt, thậm chí là tốt nhất, nếu sơ khởi chúng không bị gắn vào duy nhất với con người. Ví dụ như ta có thể nói về một cuộc đời hay một khoảnh khắc khó quên, ngay cả khi tất cả mọi người dường như đã quên chúng rồi. Nếu phẩm chất của chúng đòi hỏi không bị lãng quên, thì sự đòi hỏi đó chẳng có gì sai, mà chỉ là con người ta không tuân theo và đồng thời lái tới một lĩnh vực nó có thể được đáp ứng: Tưởng niệm Đức Chúa. Theo đó tính khả dịch của các hình thái ngôn từ cũng cần được suy xét, ngay cả khi chúng dường như không thể dịch nổi đối với con người. Và sự không thể dịch nổi này có vẻ chẳng đúng trong một khái niệm chặt chẽ về dịch thuật và ở một mức độ nào đó sao? – Trong trường hợp tách biệt này cần phải đặt câu hỏi, liệu rằng việc dịch một số hình thái ngôn từ nhất định có bắt buộc không. Bởi nguyên tắc là: Nếu dịch thuật là một hình thức, thì tính khả dịch đối với một số tác phẩm phải là cốt lõi.

(còn tiếp)

**************

(c) marcus dịch từ nguyên bản tiếng Đức Die Aufgabe des Übersetzers. Bản dịch này tặng cho Cao Việt Dũng, Nguyễn Thái Linh và những người làm công tác dịch thuật khác.

Một ngày Chủ Nhật


Đáng lẽ nó cũng sẽ chỉ là một ngày bình thường như mọi tuần. Uống cà phê, ăn một quả chuối. Ngồi bên lò sưởi đọc cái gì đó.

Nhưng ngày hôm nay khá đặc biệt.

1. Đúng ngày này 1 năm về trước, thảm họa hạt nhân - động đất - sóng thần ở Nhật Bản đã xảy ra. Một cột mốc thay đổi cục diện nhiều thứ trên trái đất này, và thay đổi chính tôi, dù tôi chẳng liên quan trực tiếp đến cái xứ đó.

Đâu ai ngờ được, Fukishima đã có thể làm thay đổi quan điểm về điện hạt nhân ở nước Đức ngay ở những người cứng rắn nhất. Bà thủ tướng CHLB Đức Angela Merkel (đảng Dân chủ Thiên Chúa CDU) ngay trong tháng Ba đã có một cuộc thay đổi ngoạn mục: Từ vị trí ủng hộ điện hạt nhân (vừa ra luật cho phép kéo dài thời gian sử dụng các nhà máy điện hạt nhân) bà tuyên bố dừng ngay việc hoạt động của 7 nhà máy điện hạt nhân cũ nhất trong vòng 3 tháng, kiểm tra về an toàn, để rồi sau 3 tháng đó quyết định đóng cửa vĩnh viễn 8 nhà máy và từ bỏ điện hạt nhân từng bước cho tới năm 2022. Cũng cần mở ngoặc thêm ở đây là việc từ bỏ điện hạt nhân từng được chính phủ tiền nhiệm của đảng Dân chủ xã hội SPD và đảng Xanh quyết định từ năm 2000 và thành luật từ 2002, nhưng sau đó bị chính phủ của bà Merkel điều chỉnh gia hạn vào năm 2010. Chỉ gần một tháng sau Fukushima, lần đầu tiên một ứng viên đảng Xanh được bầu làm thủ tướng một bang lớn ở Đức, đó là ông Winfried Kretschmann ở Baden-Württemberg. Vào mùa thu năm 2011, một cuộc thăm dò ý kiến mang tính đại diện cho tiếng nói của dân Đức cho kết quả 80% dân ủng hộ quyết định rời bỏ điện hạt nhân, 8% phản đối và 12% không nêu ý kiến.

Ngày này một năm về trước, tôi ngồi trước máy truyền hình, khóc nấc lên vì những hình ảnh và thông tin được truyền tải qua truyền thông. Tôi lo lắng cho một số người bạn của tôi ở Tokyo. Một chị và con trai đã chuẩn bị lên đường sang Nhật trở lại từ Hà Nội thì cuối cùng chuyến bay bị hủy. Và chị cùng con trai đã không trở lại Nhật từ ngày đó nữa. Một bạn gái tự nghỉ việc và rời Tokyo đến Đức, nơi anh người yêu đang lo âu ngày đêm và tính bỏ công việc để đến Nhật bảo vệ cô. Họ vừa mới cưới nhau tại Đức hồi cuối năm 2011.

Với tôi, tôi có một quyết định quan trọng cho chính mình. Đó là cú sốc lớn của thế hệ tôi. Thời Tschecnobyl tôi còn quá nhỏ, lại sống trong đất nước ở thời thông tin cấm đoán và thiếu thốn, nên tôi không có cảm giác gì. Nhưng Fukushima thì khác.

Tháng Ba năm trước, tôi cặm cụi ngồi dịch những bài viết của Yuko Ichimura, để chính mình và bạn bè người Việt của mình hiểu hơn những gì đang diễn ra tại Tokyo, và người Nhật họ đang ở trong tình hình như thế nào, cách họ sống và đối mặt với nó ra sao.

Người Nhật đã làm tôi thật tâm nể phục. Và tôi hiểu rằng mình cần sống có ý nghĩa hơn nữa, tận hưởng từng ngày hơn nữa, bao dung hơn nữa. Quyết định của tôi, ngoài việc dành thời gian và tiền bạc để làm việc tôi yêu thích, đi du lịch những nơi tôi muốn đến, còn là việc sống thật với bản thân mình và người xung quanh hơn. Tôi sẽ đến Nhật trong năm nay, có thể là một lần, cũng có thể là hai lần. Nếu mọi chuyện suôn sẻ.

2. Hôm nay là 100 ngày mất của diễn viên Đơn Dương. Chị L. nói là hôm nay hai anh chị sẽ lên chùa thắp nhang và cầu khấn cho anh. Dù anh là người đạo Thiên Chúa. Dù anh cũng không phải là bạn thân của chị và gia đình. Nhưng số phận đen đủi của anh và sự tệ bạc trong đối xử của xã hội đối với anh trong quãng đời 10 năm cuối cùng làm những người dù chỉ biết anh qua màn ảnh hay từng làm việc ngắn với anh có thể trở nên gần gũi chia sẻ và đồng cảm. Thắp cho anh một nén nhang trong ngày này, trong tâm tưởng. Tôi có một tấm hình của anh được chị L. tặng, trên đó có dòng chữ: "Xin chào mọi người ở lại". Tôi không biết mình sẽ làm gì với nó. Tôi chỉ giữ nó như một trong những vật quý giá của đời mình.



Hình trên: For Japan by Kurosama.
Hình dưới: Di ảnh Đơn Dương.